KHÚC DÂN CA VỀ MỘT DÒNG SÔNG

Đăng lúc: 09-10-2026 9:15 Sáng - Đã xem: 45 lượt xem In bài viết

Sân ga Hàng Cỏ sáng ấy ngập tràn sắc hoa. Những đóa hoa tươi còn ngậm sương sớm rực rỡ khoe sắc trong các giành tre. Đoàn học sinh trẻ trong trang phục quần xanh, áo trắng mới tinh, đầu đội mũ ca lô xanh hăm hở bước đi cùng những chiếc va li lớn. Nam mang giày đen, nữ đi giày vàng, mỗi người ôm trước ngực một bó hoa tươi thắm. Họ nề nếp xếp hàng bước qua sảnh lớn, tiến ra dãy hành lang dài rộng có mái che cong vút, hồi hộp chờ lên tàu.

Những gương mặt thanh xuân bừng sáng vẻ thông minh và đầy nhựa sống. Họ đứng thành một khối vui tươi, rạng rỡ, đối lập hoàn toàn với dáng vẻ lam lũ của những hành khách áo vải thô, đi chân trần hay guốc mộc – những chứng nhân mang trên mình dấu vết nhọc nhằn của chín năm khói lửa. Đó là đoàn học sinh ưu tú đầu tiên được tuyển chọn từ các trường trung học kháng chiến, đã tập trung rèn luyện nhiều tháng tại khu Đông Dương học xá để sang các nước xã hội chủ nghĩa học tập. Đoàn thanh thiếu niên tinh hoa của Bộ Giáo dục nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa chuẩn bị bước lên chuyến tàu liên vận quốc tế.

Những người tiễn đưa hân hoan mà bịn rịn, vẫy tay gửi gắm hy vọng về một lớp trí thức tài năng, mai đây trở về kiến thiết nước nhà.

Còi tàu réo vang ba hồi dài, đoàn tàu rùng rùng chuyển bánh. Khi mọi người đã ổn định chỗ ngồi, Hồ Trí – trưởng đoàn, đi dọc hành lang kiểm tra thì bỗng thốt lên:

“Ai thế này? Cậu lên tàu lúc nào?”

Chàng trai cao dong dỏng, đẹp rạng ngời như một chiến sĩ bước ra từ bức tranh của họa sĩ Nguyễn Sáng, cười đáp: “Em là công nhân xúc than đầu máy, tạt sang toa anh tiễn người quen đi một đoạn.”

Bộ quần áo hỏa xa xanh đen và chiếc mũ kê-pi lấm lem cũng không thể che giấu được nhân dạng thực sự của chàng trai. Đó là Nguyễn Thành Hưng – chàng nam sinh thổi sáo hay nhất khóa, điểm thi luôn đạt tốp đầu, thể thao xuất sắc nhưng đành ngậm ngùi lỡ nhịp chuyến đi ra thế giới chỉ vì vướng bận chút lý lịch gia đình đời trước. Hôm nay, nhờ ông chú làm ở xưởng đầu máy, Hưng mượn bộ đồng phục công nhân đường sắt, lén lên tàu liên vận.

Đôi mắt tinh đời của Hồ Trí – cựu học sinh cự phách trường Petrus Ký, người từng theo tiếng gọi non sông bỏ Sài Gòn ra bưng biền làm thư ký cho các vị lãnh đạo Miền – lạ gì ánh mắt si tình của chàng trai đồng bằng. Bất chấp kỷ luật, cậu ta vượt từ đầu máy xuống tận toa khách chỉ để gặp người trong mộng. Ai cũng biết, nhóm thanh thiếu niên hơn hai mươi người này, ngoài một số ít là con em công nông sở hữu thành tích học tập cực kỳ xuất sắc, phần lớn đều thuộc diện “5C” – “con cháu các cụ cả”.

Và ở khu vực nối giữa hai toa xe, người con gái đẹp nhất khóa, diện chiếc váy xanh lơ dài chấm gót với mái tóc xõa ngang vai đang bồn chồn đứng đợi. Đó là Lý Lệ Trang – cô gái sở hữu chất giọng vàng sâu lắng, ngôi sao của những đêm diễn hoành tráng vang vọng điệu dân ca trước sân trường Đông Dương học xá.

Tiếng hát ấy từng hòa quyện cùng tiếng sáo trúc của Thành Hưng. Lúc vi vu như cơn gió thoảng, lúc réo rắt dập dồn như dòng suối trào tuôn, lúc êm đềm lững lờ trôi trên sông lớn, làm thổn thức bao trái tim, gieo vào tâm hồn họ một tình yêu quê hương da diết.

Cặp đôi đứng tựa vào nhau, phóng tầm mắt ra cánh đồng bờ Bắc sông Hồng. Sau những trận mưa hạ, dòng nước phù sa cuồn cuộn chảy loang loáng. Đồng bằng rực rỡ trong nắng sớm, ngàn vạn tia sáng lung linh hắt lên từ mặt nước như những viên kim cương lấp lánh, soi đường cho con tàu bay đi trong không gian vô tận. Thời gian như ngưng đọng, nhường chỗ cho hai nhịp đập thì thầm những lời ước hẹn thủy chung.

Con tàu lao đi theo nhịp nối ray rồi chậm dần, dừng hẳn trước một cây cầu cao vút, ánh lên màu bàng bạc vắt ngang dòng sông lớn.

Ai đó cất tiếng: “Cầu đang sửa, tàu phải tạm dừng thôi!”

Bên kia bờ là quê hương, là nhà của gia tộc cô gái. Sau mùa lũ, trời xanh ngắt, dòng sông hiền hòa mang theo làn nước trong veo ôm lấy những bãi dâu xanh ngút ngàn ngoài đê.

Câu ca bềnh bồng trong tâm trí:

“Sông Cầu nước chảy lơ thơ

Đôi ta thương nhớ đến bao giờ cho nguôi…”

Âm vang ấy dội vào lòng sông, dội vào những trái tim đang thổn thức nhịp chia ly. Như muốn chiều lòng người, con tàu màu xanh lơ cứ đứng lặng hồi lâu. Tàu chưa thể đi ngay, bởi trong kháng chiến chống Pháp cầu bị đánh sập, nay phải vá víu tạm thời cho từng chuyến đi qua.

Cuối cùng, tiếng còi cũng réo rắt giục giã. Chàng trai buông tay cô gái, cõi lòng trĩu nặng bước xuống bến, để lại sau lưng lời thề nguyền chờ đợi. Chàng xuống ga này. Bên kia sông, ngôi nhà của chàng đã bị giặc Pháp san phẳng, chỉ còn trơ lại nền móng nguội lạnh.

Con tàu chuyển mình lướt nhẹ qua cầu, bỏ lại xóm làng, bỏ lại dòng sông. Sông Cầu nước chảy lơ thơ, mãi vương vấn bước chân người ra đi đến những miền xa lạ.

Hai năm trôi qua, tám mùa mưa nắng đổi dời.

Tuyết rơi rồi tuyết tan, đoàn học sinh mải mê học tập, quên cả đất trời vần vũ. Năm học cuối, Trường Dự bị Đại học L. của nước Cộng hòa bên bờ biển Baltic mở hội. Đoàn du học sinh các nước lần lượt mang lên sân khấu những thanh âm đặc sắc nhất của dân tộc mình.

Anh Hồ Trí hân hoan khích lệ: “Về học thuật, học sinh ta chẳng thua kém ai. Nhưng về văn nghệ, nhảy múa, ca hát thì phải luyện cho thật dẻo, thật vang”. Và thế là những điệu valse, tango, foxtrot… uyển chuyển xoay vòng trong những đôi giày bóng lộn. Dòng sông Danube của châu Âu rộn rã chảy dưới ánh đèn màu lộng lẫy.

Nhưng đọng lại trên hết vẫn là bài hát về dòng sông quê hương do Lệ Trang cất lên. Mềm mại, thanh cao và trầm lắng. Một tình yêu muôn đời nhung nhớ. Tiếc thay, phần nhạc đệm thiếu vắng tiếng sáo trúc của chàng trai đồng bằng nơi góc trời xa thẳm, thay vào đó là tiếng piano thánh thót, miên man của xứ người. Váy hồng phủ vai trần, mái tóc đen nhánh buông lơi, bước chân Lệ Trang lướt nhẹ trên sàn diễn tựa thuyền nương theo sóng. Điệu dân ca vang mãi, làm say đắm và thổn thức bao mảnh hồn xa xứ:

“Sông Cầu nước chảy lơ thơ

Đôi ta thương nhớ đến bao giờ cho nguôi…”

Mùa thu tiếp nối bằng những tháng ngày miệt mài trên giảng đường đại học. Mùa đông băng giá, bãi bờ lạnh lẽo càng hun đúc quyết tâm của những người trẻ khao khát làm chủ tri thức nhân loại. Mùa hè năm ấy, đoàn du học sinh còn được tiếp thêm một nguồn sức mạnh tinh thần vô giá: Cuộc gặp gỡ với lãnh tụ kính yêu Bác Hồ.

Bác Hồ với thầy trò một trường đại học những năm 60. Ảnh: tienphong.vn

Người ân cần nắm tay từng thanh niên, dặn dò những lời tâm huyết nhất. Lời Người giản dị mà sâu sắc như chân lý, gửi gắm trọn vẹn niềm tin vào thế hệ tương lai. Tất cả cùng đồng thanh hứa sẽ không bao giờ quên lời dạy của Người.

Những mùa đông lại nối nhau đi qua.

Phố phường, bầu trời và thế giới ấy cứ cuồn cuộn dịch chuyển như những dòng sông chở đầy băng tuyết và rác rưởi của thời đại. Tuyết rơi buốt giá, bầu trời đêm ngày mang một màu xám xịt nhờ nhờ. Nhưng bên trong các câu lạc bộ sinh viên, không khí luôn nóng rực dưới ánh đèn chớp nháy.

Thứ âm nhạc mới xuất hiện như một quả bom nguyên tử, làm nổ tung những đôi chân tuổi trẻ. Guitar điện bập bùng giữ nhịp, solo réo rắt dại cuồng. Trống điện chát chúa dồn nén khiến những con người trẻ tuổi vật vã, ngất ngây. Nhân loại chưa từng nghe, chưa từng cảm, chưa từng run rẩy vì thứ âm nhạc nào như thế.

Đó là kỷ nguyên của “rock and roll”.

Đó là những thanh niên cuồng nhiệt chạy theo thần tượng, khoác lên mình bộ quân phục biến tướng, đeo lỉnh kỉnh mề đay giả và những chùm xích mạ vàng nhấp nháy. Hình ảnh anh chàng ca sĩ bên kia đại dương cầm chiếc micro to dài, quỳ xuống, nhảy lên, ngả nghiêng gào thét được treo nhan nhản khắp các sảnh câu lạc bộ, chiếu sáng trên mọi bức tường quảng cáo ở lục địa già.

Nàng sinh viên năm thứ ba Lệ Trang cũng bắt đầu quay cuồng trong thứ âm nhạc ma mị ấy.

Ông Tùy viên văn hóa của Đại sứ quán theo dõi sát sao tình hình học tập của hệ sinh viên hưởng học bổng quốc gia, gọi Hồ Trí lên hỏi chuyện. Hồ Trí ngập ngừng: “Nhìn chung tất cả đều tốt, riêng trường hợp này… còn nợ môn và tín chỉ từ năm ngoái chưa trả. Năm thứ ba rồi, e rằng rất gay go. Đoàn thanh niên đã nhiều lần nhắc nhở, giúp đỡ”.

Hè về, những tia nắng đầu tiên nhảy nhót trên ngọn táo, cành lê trong khu vườn cũ của Đại sứ quán. Tại các tòa lâu đài đại học, những đợt thi kiểm tra dồn dập ập đến. Tri thức là những ngọn núi Alps, núi Carpathian khổng lồ sừng sững mà con người phải trèo qua.

Trưởng đoàn Hồ Trí lại đến Sứ quán báo cáo. Ông Tùy viên văn hóa nghiêm giọng kết luận: “Đã xin ý kiến Bộ Giáo dục ở nhà. Những trường hợp này nên đưa về nước học tiếp. Học bổng quốc tế có hạn, không thể lãng phí. Cậu phải giải thích, làm tốt công tác tư tưởng cho các em”.

Ôi rock and roll! Nó đã cuốn phăng đi bao số phận lạc nhịp. Bài hát “Only You” của Presley vẫn ồn ào gào thét như giông bão giữa rừng guitar chói óc. Xa rồi, xa lắm rồi khúc ca sâu lắng duyên tình: “Sông Cầu nước chảy lơ thơ…”

Tại nhà ga trung tâm của thành phố lớn, con tàu liên vận quốc tế sơn màu xanh nước biển đang rầm rì nổ máy. Tiễn người con gái đẹp đẽ ấy về nước hôm nay chỉ có mỗi ông Tùy viên văn hóa. Ngày xưa đến đây, cả một rừng người ra đón, hoa hồng rực rỡ trao tay. Nay ngày về lặng ngắt, hành khách lưa thưa lạnh lẽo.

Người bạn gái duy nhất đưa tiễn cô ra biên giới là Nguyễn Thị Đoan Trang – người bao năm cùng học, nay khác trường, khác ngành. Cũng tên là Trang, nhưng đây là bóng hồng từng khiêm nhường hát bè cho ngôi sao Lệ Trang thuở nào. Chia tay tại cửa ngõ một quốc gia khác, hai chị em ôm nhau khóc nghẹn không nói nên lời. Đoan Trang bước lên chuyến tàu nội địa trở về trường, còn Lệ Trang đứng khuất lấp, cô độc sau cánh cửa toa liên vận.

Chiều hôm sau, cầm tờ báo Express trên tay, ông Tùy viên văn hóa hoảng hốt gọi điện gấp cho Hồ Trí. Đang vùi đầu trong thư viện, Trí phải tức tốc bắt xe điện chạy đến.

“Thế này thì không ổn rồi!”

Hồ Trí đọc một mạch bài báo chễm chệ trên trang nhất của tờ báo nổi tiếng chuyên giật gân, câu khách. Ở cái thành phố trung tâm châu Âu này – nơi bản lề giữa Đông và Tây đang hầm hập hơi nóng của Chiến tranh lạnh – một sự kiện cỏn con cũng có thể bị thổi bùng thành khủng hoảng để bôi nhọ các quốc gia đối lập.

“Bài báo giật tít bằng những câu hỏi vu vơ về sự cấm đoán tình yêu, rồi quy chụp thành vấn đề nhân quyền. Thật hết chỗ nói!”

Ông Tùy viên thở dài: “Các em là lớp người đầu tiên hưởng học bổng nhà nước, được chu cấp đi lại, ăn mặc như tiêu chuẩn ngoại giao. Quyền lợi lớn thì nghĩa vụ phải cao, phải làm đúng những điều đã cam kết trong Quyết tâm thư.”

Hồ Trí lập tức gọi cho Đoan Trang, nhờ nhắn Lệ Trang đúng chín giờ sáng mai phải có mặt tại Phòng tiếp khách của Đại sứ quán để giải quyết, bởi chỉ có chị em họ mới biết chính xác số điện thoại và nơi ở của nhau.

Sáng hôm sau, Hồ Trí có mặt đúng hẹn. Khu vườn hồng bước vào hè đẹp lộng lẫy như vườn thượng uyển. Táo lê trĩu hoa, cỏ xanh mơn mởn, chim hót ríu ran. Cảnh sắc bừng lên sức sống, nhưng cõi lòng người lại trĩu nặng âu lo.

Nhìn mảnh sân lát đá cẩm thạch bóng bẩy trước căn biệt thự hai tầng, Trí chợt nhớ lại hình ảnh lãnh tụ tối cao của đất nước từng ngồi đây cùng bầy cháu nhỏ. Hàng chục năm Người mới trở lại châu Âu, trăm công nghìn việc bủa vây, nhưng Người vẫn dành trọn một buổi sáng để thăm hỏi, dặn dò đoàn du học sinh. Người đứng ở dãy ghế đầu, các chàng trai chen nhau cố đứng sát bên Người. Người cười, nghiêm nét mặt bảo: “Các cháu trai không được chen lấn, gọi các cháu gái đến đây, đứng bên Bác”.

Lệnh của Người ấm áp mà thiêng liêng như lời răn của Tổ quốc. Lệ Trang, Đoan Trang đã được đứng sát bên Người trong bức ảnh lịch sử ấy.

Nhìn lại bậc thềm năm xưa, Hồ Trí càng cảm thấy xót xa khi lớp học trò được đích thân Người dạy bảo lại trượt ngã. Đã quá chín giờ sáng, vẫn không thấy bóng dáng người con gái lỡ buông lời bồng bột với báo chí. Tuổi trẻ ngông cuồng, hiếu thắng, tự cho rằng những điều mình vút miệng thốt ra sẽ mang lại sự tự do cá nhân. Nhưng Tổ quốc và nhân dân là thực thể linh thiêng. Làm sao có thể vì cái “tôi” nhất thời mà quay lưng oán trách những người đã nhịn ăn, nhịn mặc để nuôi mình ăn học?

Trí có linh cảm một ánh mắt từ xa đang lén nhìn vào khu vườn. Không dám đến, không dám vào, không dám đối diện. Một sự tự vấn đầy xấu hổ.

Ngồi trong văn phòng, người trưởng đoàn từng trải định viết một bức thư dài phân tích thiệt hơn cho người em gái lạc lối. Nhưng viết kín trang, đọc lại thấy quá giáo điều, anh đành vo tròn vứt bỏ. Trên tờ giấy mới, anh nắn nót ghi lại đúng mười lăm chữ:

Gửi em Lý Lệ Trang,

Hãy nghĩ cho kỹ, tương lai nằm ở em.

Hồ Trí.

Mười giờ sáng. Không thể đợi thêm, anh bèn bước ra cổng, trao phong thư kẹp cùng một bông hồng nhung hái vội cho viên công an gác trạm: “Lát nữa sẽ có một cô gái tên Lệ Trang đến nhận”.

Bông hồng Sứ quán cùng bức thư ngắn ngủi đã theo chân người con gái ấy vượt biển, trôi dạt đến một quốc gia Bắc Âu xa xôi.

Chỉ vì một phút lầm lỡ, một lời nói nặng nề về những người đã cưu mang mình mà ra nông nỗi này. Sự ân hận, dằn vặt và nỗi xấu hổ tột cùng khiến nàng không đủ dũng khí đối mặt. Nàng chạy trốn đến vùng Bắc bán cầu thưa thớt bóng người, nơi đất nước băng giá mở lòng cưu mang những số phận muốn lãng quên quá khứ.

Cô gái Á Đông gầy gò, mỏng manh tiếp tục theo học ngành Kiến trúc nội thất. Mùa đông Bắc Âu lạnh lẽo đến rợn người. Băng tuyết trắng xóa phủ lấp đất trời từ đông sang hè. Nàng giam mình trong giảng đường và thư viện. Đọc và học. Học để quên đi sự bồng bột, nông nổi của tuổi trẻ.

Sự khác biệt văn hóa tạo ra một bức tường vô hình. Người bạn học tóc vàng cũng đành bất lực vì chẳng biết mở lời tâm sự từ đâu. Năm tháng vần vũ trôi qua, nhiều lúc nàng như quên mất tên thật của mình khi ai đó cất tiếng gọi lơ lớ: “Li Tơ Rang”.

Nàng chợt nhớ hai câu thơ của một người bạn Việt hiếm hoi từng ghé ngang xứ này:

“Ai đưa ta đến xứ này

Bên đông đá dựng, bên tây thông ngàn”.

Mảnh đất này dường như chỉ dung nạp loài vân sam – một giống thông kiên cường. Xanh quanh năm, xanh trong băng giá, xanh giữa bão bùng. Những loài cây khác chẳng thể nào bén rễ nổi. Con người xa xứ phải chăng cũng đành gồng mình hóa thành vân sam?

Sách báo tiếng Việt ở đây hiếm hoi hơn cả kim cương. Những đêm dài tĩnh mịch, nghe bản Nocturne miên man của Chopin, nhìn lên màn hình tivi chỉ thấy quê nhà chìm trong khói lửa, bom đạn và chết chóc, cõi lòng nàng quặn thắt. Mỗi lần như thế, nàng lại mang bức ảnh có vị lãnh tụ kính yêu tóc hoa râm ngồi giữa bầy cháu nhỏ ra ngắm rồi bật khóc. Khóc cho vơi nỗi nhớ, khóc vì sự ân hận tột cùng, và khóc để tự thề với lòng phải học thành tài để chuộc lại lỗi lầm.

Ôi, biết bao nhiêu là nhớ! Nhớ cái nắng oi ả đổ lửa trên sân Học xá Đông Dương, nhớ dàn nhạc ếch nhái râm ran trong những đêm mưa rào quanh ao hồ Nam Hà Nội. Tin tức bạn bè cứ thưa thớt dần. Chỉ còn mỗi Đoan Trang là người duy nhất đều đặn biên thư.

Người xưa… liệu có còn nhớ ta không?

May mắn thay, nàng vẫn giữ được bộ đĩa than hát dân ca. Mỗi lần kim đĩa chạm vào nếp rãnh, nước mắt lại đầm đìa:

“Người ơi người ở đừng về… Người về em chẳng…”

Ta phải về thôi!

Quê hương ơi, biết bao giờ thôi thương nhớ!

Mười năm! Rồi mười lăm năm trôi qua. Truyện Kiều của Nguyễn Du đã được người ta tự dịch sang tiếng nước ngoài. Nàng Kiều lưu lạc, còn ta một thân gầy gò, chẳng một mảnh tình vắt vai. Ta có còn đẹp như xưa không?

Ở nơi này, ta có mọi thứ tiện nghi vật chất, nhưng tâm hồn lại trống rỗng, ngoại trừ cuốn hộ chiếu bìa xanh đã sờn rách mép sau bao năm chưa đổi. Tiếng mẹ đẻ của ta cũng đã cũ kỹ lắm rồi. Một sự cô đơn cùng cực giữa nhân loại bủa vây.

Phải về thôi.

Trưa hè. Sân bay Gia Lâm ngập tràn nắng gắt. Chiếc phi cơ TU đáp xuống đường băng. Một người đàn bà gầy gò, vóc dáng tầm thước mang nét đẹp mong manh Á Đông nhưng lại khoác trên mình phong cách thời trang Bắc Âu lững thững bước xuống.

Nàng đứng ngơ ngác giữa sảnh lớn nhà ga. Kìa, người bạn tri kỷ bao năm trao nhau từng cánh thư, từng giọt nước mắt dang rộng vòng tay đón người xa xứ. Đoan Trang òa khóc, ôm chầm lấy Lệ Trang.

Rời khỏi sảnh chờ mênh mông, trước mắt nàng là một chiếc xe con biển đỏ quân sự. Đứng cạnh xe là người đàn ông mặc quân phục hàm Trung tá. Dáng người cao gầy, gương mặt phong sương hằn lên dấu vết của một thời trận mạc.

Ai đây?

Là Nguyễn Thành Hưng – người bạn năm xưa, chủ nhân của tiếng sáo đã làm xao xuyến cả một thời thiếu nữ.

Trời đất phút chốc như bừng sáng sắc hoa. Nhìn đâu quê hương cũng thân thương, đẹp đẽ đến nghẹn ngào. Chàng bước tới, trao cho nàng bó hoa hồng tươi thắm, khẽ ôm bờ vai gầy gò và hỏi:

“Em muốn đi đâu trước?”

Nàng vừa khóc vừa cười, giọng vỡ òa không thành tiếng:

“Về nhà thôi anh!”

Họ lên xe, chạy thẳng ra ga Hàng Cỏ.

Nhà ga năm xưa từng hứng chịu mưa bom nay đã được tu sửa lại mặt tiền, mang một diện mạo khác. Cùng nhau bước vào sân đợi, trước mắt họ là đoàn tàu sơn màu xanh nâu loang lổ vết ngụy trang chưa kịp phủ mới. Con tàu như chiếc thuyền Noah trong Kinh Thánh, chuẩn bị đưa đôi bạn trở về miền ký ức.

Tàu lao đi trong gió xuân, rẽ sóng qua đại dương lúa xanh rờn. Chàng trai và cô gái năm nào nay đã bước vào tuổi trung niên, nhưng trái tim dường như vẫn đập nhịp thanh xuân tươi trẻ. Họ lại đứng ở phần nối giữa hai toa tàu, trao nhau ánh nhìn đắm đuối.

Ngoài kia, sông Hồng vẫn mải miết chảy. Làng mạc san sát, núi đồi bao la lùi dần vào dĩ vãng trong vạt nắng chiều. Và đúng như ngày trước, đoàn tàu chạy chậm dần rồi dừng hẳn trước mặt một dòng sông và cây cầu sắt loang lổ vết sơn.

Ai đó cất tiếng: “Cầu đang sửa”.

Năm xưa, tàu dừng vì cầu bị Pháp phá. Nay, tàu đợi vì bom Mỹ dội xuống lại phải vá víu. Vết thương của non sông nối dài theo nhịp thời gian.

Nhưng cảnh vật hai bên bờ thì đã khác. Bên này sông, khu vườn nhà chàng đã vươn lên rợp bóng cây trái, mái nhà thờ họ ngả màu rêu phong vững chãi. Bên kia sông, ngôi nhà gia tộc của nàng vẫn bình yên đứng đó. Dưới mặt nước trong veo, thuyền bè san sát chen nhau qua lại.

Và đâu đây trong gió, làn điệu dân ca xưa lại vút cao, hòa vào nhịp đập của hai trái tim đã đi hết nửa đời phiêu bạt mới tìm thấy nhau:

“Sông Cầu nước chảy lơ thơ

Đôi ta thương nhớ biết bao giờ cho nguôi

Nhớ đến người

Lại nhớ đến người

Qua sông lại nhớ đến người…”

Qua sông lại nhớ đến người.

Câu ca của mười lăm năm đợi chờ, nay đã tìm được bến đỗ bình yên.

Nhân kỷ niệm 75 năm (1951-2026) năm Nhà nước VNDCCH gửi những học sinh đầu tiên đi ra thế giới học,

BÙI CÔNG ĐỊNH