Đại đội trưởng Nguyễn Ngọc – Người anh cả giữa mưa bom, bão đạn Trường Sơn

Đăng lúc: 14-10-2026 2:50 Chiều - Đã xem: 19 lượt xem In bài viết

Mưa Trường Sơn trút xuống như cầm chỉnh đổ, biến vạt đường chiến lược qua trọng điểm đèo Khỉ thành một bãi sình lầy nhão nhoét, đỏ quạch. Tiếng bom rải thảm của bầy B-52 vừa dứt, mùi thuốc súng khét lẹt lẩn khuất trong màn sương mù đặc quánh, thi thoảng lại bị xé toạc bởi tiếng nổ ục ục của những quả bom nổ chậm. Trong hầm chỉ huy dã chiến ghép vội bằng rầm đất và thân cây, Đại đội trưởng Nguyễn Ngọc đưa tay vuốt dòng nước mưa vẩn bùn đang chảy tràn trên mặt. Anh liếc nhìn chiếc đồng hồ cơ đã nứt đôi mặt kính: đúng hai giờ sáng.

Phân đội TNXP 39 mở đường Trường Sơn. Ảnh: Vương Khánh Hồng/TTXVN phát

Đơn vị của anh – Đại đội 439 TNXP – nhận quân lệnh thép: bằng mọi giá phải thông đường trước năm giờ sáng. Đoàn xe vận tải binh trạm chở đạn dược và quân nhu phải vượt qua trọng điểm trước khi mặt trời lên, tránh tầm đánh phá của không quân địch. Trong những tháng năm cam go nhất của cuộc kháng chiến, mỗi mét đường Trường Sơn đều được đong đếm bằng mồ hôi, và đôi khi, bằng cả máu của những chàng trai, cô gái tuổi đôi mươi. Ngọc bước ra khỏi hầm. Vóc dáng anh cao gầy lọt thỏm giữa bóng đêm, nhưng đôi vai toát lên vẻ vững chãi lạ thường. Nước da ngăm đen hằn sâu dấu vết sương gió và những trận sốt rét ác tính nơi rừng thiêng nước độc. Cầm chiếc đèn pin bọc vải đỏ chống lóa, anh lao ra màn mưa. Tiếng sấm rền rĩ hòa cùng tiếng gầm rú của chiếc AC-130 vờn quanh tạo nên một không gian đặc quánh, nghẹt thở.

“Tất cả các trung đội chú ý! Trung đội 1 cào bùn, giải phóng khối lượng sạt lở. Trung đội 2 và 3 nhanh chóng chuyển đá hộc, vá hố bom!”, giọng người chỉ huy trầm đanh, xé toạc màn mưa.

Lập tức, hàng chục bóng áo xanh lao ra mặt đường. Dưới ánh sáng ma quái của pháo sáng địch thả xa xa, họ trần mình vật lộn với đất đá. Bữa vội hằng ngày chỉ có vắt cơm mốc meo chấm muối vừng hay bát canh rau rừng, nhiều người tóc rụng tơi tả vì sốt rét, da xanh xao như tàu lá. Thế nhưng tuyệt nhiên không một tiếng than thở. Không gian chỉ còn tiếng cuốc xẻng va vách đá chan chát và tiếng hò dô chuyển những thân cây lớn chắn ngang đường.

Đang lúc nhịp độ khẩn trương nhất, một tiếng rít xé gió rợn người lao xộc tới. Bằng phản xạ sinh tử của người lính ngót hai nhiệm kỳ bám trụ, Ngọc nằm rạp xuống bùn, hét lạc giọng: “Bom tọa độ! Nằm xuống!”. Một chuỗi tiếng nổ chát chúa dựng đứng vách núi. Đất đá, mảnh pháo nổ tung, găm ràn rạt vào rặng cây. Cả đèo Khỉ rung lên bần bật như chực sụp đổ. Khói khét chưa kịp tan, Ngọc đã vọt dậy. Mảnh đá văng xé toạc cánh tay trái, máu rịn ra ướt đẫm ống tay áo, nhưng anh lao thẳng về phía trận địa mù mịt: “Thanh đâu? Bình đâu? Có ai bị thương không?”.

Dưới hố bom mép trái, hai chiến sĩ trẻ bị đất đá vùi lấp đến ngang ngực. Ngọc lao tới, dùng đôi bàn tay trần cào bới lớp cuội sắc lẻm để lôi đồng đội lên. Thấy tay đại đội trưởng nhuộm một màu đỏ ối, cậu lính trẻ nấc nghẹn: “Anh Ngọc… anh bị thương rồi, để tụi em tự lên!”. Ngực đập liên hồi, Ngọc thở dốc nhưng vẫn nở nụ cười hiền khô trên khuôn mặt bết bùn: “Xước ngoài da thôi, hề hấn gì! Còn đi lại được là còn chiến đấu. Cố lên các cậu!”. Sự gan góc của người anh cả như một liều thuốc tinh thần, xua tan nỗi hoang mang vừa ập đến với những chàng trai mới rạch mặt chữ điền.

Người chỉ huy ấy không chỉ là điểm tựa giữa bão lửa, mà còn là người anh ruột thịt trong những ngày Trường Sơn oằn mình vì đói rét. Có đợt cao điểm địch bóp nghẹt tuyến tiếp tế suốt nửa tháng, cả đại đội cầm hơi bằng cháo loãng nấu củ mài và rau tàu bay. Một đêm đi tuần lán nữ, thấy chị em phải lót lá chuối khô chống chọi với cái lạnh cắt da cắt thịt, Ngọc lặng lẽ về hầm. Anh mang chiếc chăn bông duy nhất – kỷ vật người mẹ già chắt chiu gửi từ quê – cắt làm ba mảnh nhường cho những lán ốm yếu nhất. Phần mình, anh cuốn vội tấm nilon rách và khoác áo tơi bện lá. Bị tổ nuôi quân phát hiện cằn nhằn, anh chỉ ôn tồn bảo: “Chị em con gái vốn chân yếu tay mềm, chịu bao thiệt thòi. Mình là đàn ông, thân làm chỉ huy, chịu sương gió thêm chút có chết ai. Anh em có ấm dạ, đường mới thông, xe mới chạy được”.

Có lần, cậu anh nuôi chắt mót được nắm gạo nếp, nấu riêng bát cháo bồi dưỡng cho Ngọc sau trận sốt rét thập tử nhất sinh. Bưng bát cháo bốc khói trên tay, anh đi thẳng xuống lán y tế, tự tay bón từng thìa cho một thương binh đang mê sảng vì nhiễm trùng: “Cậu ấy cần giành giật sự sống hơn tôi. Rau rừng mãi dạ dày tôi cũng quen rồi”.

Những hy sinh thầm lặng ấy đã rèn nên một uy tín tuyệt đối. Ở Đại đội 439, mệnh lệnh của Ngọc vang lên không đơn thuần là quân lệnh, mà là tiếng gọi của tình ruột thịt. Đồng hồ chỉ 4 giờ 30 phút sáng. Mưa ngớt. Gió bấc ùa về sắc lẹm. Trọng điểm đèo Khỉ sau hàng giờ giành giật với tử thần đã phẳng phiu trở lại.

Từ khúc cua chân đèo, ánh đèn gầm của chiếc xe tải dẫn đầu đoàn xe chiến lược hắt lên rạng rỡ. Tiếng động cơ xình xịch vang vọng đại ngàn như một bản tráng ca. Ngọc đứng nghiêm bên mép đường, tay phất nhịp nhàng lá cờ lệnh. Dọc hai bên tuyến, những khuôn mặt sạm đen, mệt nhoài bỗng bừng lên thứ ánh sáng kỳ diệu của niềm kiêu hãnh. Họ reo hò vẫy chào những người lính cầm vô lăng. Khi chiếc xe cuối cùng khuất bóng cũng là lúc bình minh ló rạng. Đột nhiên, cơn sốt rét rừng phục kích ập đến. Ngọc đổ gục xuống vệ đường, toàn thân co giật, hai hàm răng va vào nhau bần bật. Đồng đội thảng thốt lao đến, người cởi áo ủ ấm, người đốt vội đống lửa củi ngo. Nhìn những gương mặt trẻ măng rơm rớm nước mắt vây quanh, Ngọc khẽ mở mắt, thều thào qua hơi thở đứt quãng: “Xe qua hết rồi… Tốt quá… Anh em về lán… nghỉ ngơi đi…”.

Chiến tranh lùi xa. Đèo Khỉ năm xưa nay đã nhường chỗ cho đại lộ Hồ Chí Minh thênh thang, trải nhựa êm ru. Nhưng trong ký ức của những cựu TNXP 439, tượng đài về người Đại đội trưởng dạn dày bom đạn mà bao dung, ấm áp vẫn vẹn nguyên, sừng sững giữa đại ngàn Trường Sơn bất tử.

Bùi Văn Hoằng