ĐẠI ĐỘI TRƯỞNG CỦA CHÚNG TÔI

Đăng lúc: 12-01-2026 3:26 Chiều - Đã xem: 13 lượt xem In bài viết

Chiến tranh đã lùi xa hơn nửa thế kỷ, bụi thời gian có thể phủ mờ nhiều thứ, nhưng với cựu TNXP Trần Bá Thược (ảnh dưới), những ký ức về người anh, người chỉ huy Phạm Xuân Mai vẫn vẹn nguyên như mới hôm qua. Ông Mai – Đại đội trưởng của C759 anh hùng trên tuyến đường 12A huyền thoại – đã tạc vào lòng đồng đội một bức chân dung về lòng quả cảm, sự tận tụy và một tình thương thầm lặng nhưng sâu nặng vô biên.

Ông Thược bồi hồi nhớ lại những năm tháng 1965 khốc liệt ấy. Do biến động của chiến trường, chỉ trong vòng chưa đầy năm tháng, đơn vị của ông đã phải thay đổi cán bộ chỉ huy tới bốn lần. Giữa lúc lòng người còn đôi chút xáo trộn, tháng 11 năm 1965, ông Phạm Xuân Mai được điều về tiếp quản đơn vị.

Phạm Xuân Mai là người con của vùng đất Điện Bàn, Quảng Nam, vốn là học sinh miền Nam tập kết ra Bắc từ năm 1954. Ấn tượng đầu tiên về ông trong mắt anh em chiến sĩ là sự nghiêm nghị đến mức khó gần. Ông ít nói, hiếm khi cười, gương mặt lúc nào cũng đăm chiêu như đang tính toán những cung đường. Ông quyết đoán và cực kỳ thẳng thắn, ai làm việc cầm chừng, thiếu trách nhiệm đều bị ông phê bình bằng chất giọng miền Trung đặc sệt: “Làm ăn gì mà giật dờ (vật vờ) thế hả!”.

Hình ảnh đặc trưng của ông là chiếc áo mưa bạt lộn ngược màu đen khoác ngoài, chiếc đèn pin quàng chéo ngực có túi ngụy trang khéo léo, và tay không rời chiếc gậy lồ ô được đục sẵn làm điếu cày. Người miền Nam nhưng lại “nghiện” thuốc lào miền Bắc, ông hút sành điệu và điềm đạm. Ông có vợ là chị Đinh Thị Yên, quê ở Minh Hóa, vốn là công nhân Công trường 12A. Hai anh chị cưới nhau đã lâu nhưng chiến trường chia cắt, niềm hạnh phúc có một đứa con vẫn còn là niềm mong mỏi xa xôi.

Về phụ trách C759 trong điều kiện thiếu thốn đủ bề, ông Mai thể hiện sự quan tâm bằng những hành động cụ thể nhất. Ông đi kiểm tra từng lán trại, hầm hào, nhắc nhở anh em giữ gìn vệ sinh để bảo vệ sức khỏe. Ông tỉ mỉ rà soát từng bếp Hoàng Cầm, đảm bảo khói không được lọt ra để giữ bí mật tuyệt đối. Ban đêm, ông lặng lẽ xuống tận hiện trường, chia sẻ với anh em từng điếu thuốc lào giữa cơn ngái ngủ. Có lần đang làm việc, ông bất ngờ quát lớn: “Nằm xuống!”. Cả đơn vị đồng loạt nằm rạp. Khi mọi người ngơ ngác nhìn quanh, ông mới khẽ nở một nụ cười hiếm hoi: ông đang tập phản xạ nhanh cho anh em trước làn bom đạn. Chính những giây phút ấy đã kéo người chỉ huy sắt đá lại gần hơn với trái tim người lính.

Bên cạnh kỷ luật thép, ông Mai còn là một “người quản gia” tận tâm. Ông cử người về hạ lưu đánh cá cải thiện bữa ăn, cho anh em đi hái măng rừng, hoa chuối, cả rau voóc về nấu canh cho mát ruột. Thấy anh em bị phù thũng vì thiếu chất, ông cho người tìm mua cám gạo để bồi dưỡng. Ông cũng là người khoa học khi sắp xếp lại quân số, biên chế tiểu đội nam và nữ riêng biệt để thuận tiện trong sinh hoạt và tác chiến.

Đường 12A những ngày ấy không còn vẻ hoang sơ dưới tán cây rừng. Dưới làn bom “vết dầu loang” của Mỹ, mặt đường phơi ra màu đất đỏ rực, tà luy dương dựng đứng, tà luy âm sâu thăm thẳm. Trách nhiệm đè nặng lên vai người đại đội trưởng: vừa phải đảm bảo thông suốt mạch máu giao thông, vừa phải bảo toàn mạng sống cho hàng trăm con người. Khẩu hiệu: “Địch đánh rừng già, ta ra rừng non; địch đánh rừng non, ta ra bãi trảng” của A trưởng Lê Tư Phổ đã trở thành kim chỉ nam cho đơn vị dưới sự chỉ đạo của ông.

Ông Thược kể, ông thường được đi trinh sát mặt đường cùng Đại đội trưởng. Đi với ông Mai là một thử thách lòng can đảm. Ông cứ lầm lũi trong chiếc áo mưa đen, rảo bước hiên ngang giữa vùng trọng điểm. Một lần, tại Km14, có quả bom nổ chậm chui sâu xuống vệ đường. Trong khi ai nấy đều run sợ, ông Mai vẫn ngồi thản nhiên ngay bên hố bom để viết báo cáo. Ông Thược nằn nì: “Thủ trưởng ơi, sang trạm gác đèn mà ngồi, ở đây nguy hiểm lắm!”. Vừa dứt lời, hai người vừa kịp bước sang trạm thì “oàng” một tiếng, quả bom phát nổ, khói bụi mịt mù. Ông Mai xuýt xoa: “May mà mày bảo tao đi sớm, không thì tiêu rồi!”.

Không chỉ lo đánh giặc, ông Mai còn chú trọng cái chữ. Đêm lấp hố bom, ngày ông tổ chức cho anh em học văn hóa. Giữa rừng già, tiếng đọc bài vang lên át cả tiếng động cơ máy bay. Những người chưa biết chữ thì nhờ bạn đọc hộ thư nhà, những câu chuyện thêu dệt từ lá thư làm rộn vang tiếng cười xua tan mệt mỏi. Đội văn nghệ cũng được thành lập, mang tiếng hát át tiếng bom.

Ký ức đau thương nhất vẫn là đêm 3/7/1966 tại đồi Cha Quang. Khoảng 9 giờ tối, khi đơn vị đang khẩn trương san đường cho xe qua, B-52 bất ngờ ập tới. Cả ngọn đồi lóe lên những tia chớp tử thần rồi tối sầm lại. Đất đá đổ xuống như thác lũ. Trong phút chốc, màu xanh của rừng biến thành màu đỏ của máu và đất. Tiếng la hét, tiếng gọi nhau thất thanh trong bóng tối mịt mùng. Đêm ấy, 6 người đồng chí của C759 đã vĩnh viễn nằm lại dưới lòng đất mẹ.

Đại đội trưởng Phạm Xuân Mai như người không hồn, ông chạy ngược xuôi từ hiện trường về trạm chỉ huy. Chuông điện thoại reo liên hồi, tiếng Binh trạm giục giã: “Đồi E báo cáo đi!”. Ông Mai nghẹn ngào, giọng lạc đi vì đau đớn: “Hy sinh 6 đồng chí, thương vong chưa xác định hết…”.

Nén đau thương thành hành động, ông ra lệnh thông đường bằng mọi giá. Hàng trăm xe hàng đang chờ phía sau, chỉ cần chậm trễ, máy bay địch sẽ “xăm” trúng. Kế hoạch thông xe ban đầu là 56 giờ, nhưng thực tế đã kéo dài đến 168 giờ vì bùn lầy kinh khủng. Giữa cái khó, cái khôn ló ra, ông Mai chỉ đạo anh em lên lèn Bãi Dinh, chặn xe chiến trường ra để bốc đá chống lầy. Chị Nguyễn Thị Kim Huế – A trưởng – đã phải đứng ra thuyết phục cánh lái xe bướng bỉnh bằng những lời lẽ thấu tình đạt lý. Cuối cùng, những khối đá của sự đoàn kết đã giúp con đường được khai thông.

Trước mỗi trận đánh lớn vào vùng tử địa, ông Mai thường tổ chức “truy điệu sống” cho anh em. Bên gốc cây me cổ thụ trơ trụi lá vì bom đạn, ông chuẩn bị sẵn quan tài, băng ca, rồi nghẹn ngào giao nhiệm vụ. Những đôi mắt rực lửa quyết tâm nhìn người chỉ huy, họ hiểu rằng mỗi bước chân đi là một lần dâng hiến cho Tổ quốc.

Ngấp một ngụm nước, ông Thược kết thúc câu chuyện với ánh mắt xa xăm. Đại đội trưởng Phạm Xuân Mai là thế, một người anh hùng thầm lặng giữa đại ngàn. Sau này, khi ông chuyển lên Ban Chỉ huy Công trường 12A, trong một chuyến đi thực địa, ông đã hy sinh vì tai nạn xe. Ông ra đi, nhưng tinh thần và tình yêu thương ông để lại vẫn mãi là ngọn lửa sưởi ấm tâm hồn những người lính năm xưa. Trong chiến công hiển hách của C759 Anh hùng, tên ông đã được viết vào sử sách bằng cả máu và nước mắt.

Ghi chép theo lời kể của cựu TNXP Trần Bá Thược

Hồ Duy Thiện