Rời ghế nhà trường khi mực sực thơm trang giấy, những thiếu nữ Hà Nội ngày ấy đã quả cảm xóa hộ khẩu, khai tăng tuổi để được lên đường cống hiến khi chưa tròn mười bảy. Hơn sáu thập kỷ trôi qua, ký ức về Đại đội xung kích Thăng Long 343 năm xưa vẫn luôn rực cháy – một thời hoa lửa đầy tự hào của những “đóa hoa thép” nơi tuyến đầu Tổ quốc.
Lên đường tuổi mười bảy: Khát vọng từ những lá đơn tình nguyện

Những thành viên Đại đội xung kích Thăng Long năm xưa. Hàng 2 từ phải sang trái: bà Thành (thứ 2), bà Vinh (thứ 3), bà Tư (thứ 4). Ảnh: NVCC
Ngày 28-12-1967, Đại đội xung kích Thăng Long 343 được thành lập theo yêu cầu mở đường Trường Sơn 20-7. Từ hàng trăm lá đơn tình nguyện của thanh niên xung phong thuộc các đại đội 811 đến 817 (Đội TNXP chống Mỹ cứu nước đầu tiên của Thủ đô – N43), 145 đội viên ưu tú nhất đã được lựa chọn. Đặc biệt, có đến 50% đội viên đã kinh qua các chức vụ cán bộ từ A trưởng trở lên, 39 đảng viên, số còn lại là đoàn viên và đối tượng Đảng; những người luôn tự nhủ phải giữ vững cốt cách, khí chất người Hà Nội ngay trên tuyến lửa.
Ngược dòng thời gian về năm 1965, cô học sinh trường Đoàn Kết (khu Hai Bà Trưng) – Trần Thị Thành khi ấy vẫn chưa tròn mười bảy tuổi. Biết cha mẹ sẽ không đồng ý cho con gái đi xa, Thành lặng lẽ mang sổ hộ khẩu lên khu hành chính làm thủ tục xóa tên, đăng ký tham gia thanh niên xung phong.
Bà Thành bồi hồi nhớ lại: “Tôi đi mà giấu biệt gia đình. Đến ngày mai lên đường mới dám nói: ‘Mẹ ơi, ngày mai con ra chiến trường’. Cụ buồn lắm, nhưng vẫn nén lòng tiễn con gái lên đường”.

Cùng năm ấy tại khu Hoàn Kiếm, cô gái Vũ Thị Vinh (ảnh trên, hàng ngồi, thứ hai từ phải sang) cũng mới mười sáu tuổi, chưa đủ tuổi theo quy định nhưng vẫn kiên quyết xin đi bằng được. Bà Vinh chia sẻ: “Lúc đó tôi còn ít tuổi quá, gia đình lo tôi không hoàn thành được nhiệm vụ. Nhưng nghe tiếng gọi của Đảng, của Bác, lòng tôi đã quyết, không gì lay chuyển được”.
Giữa tọa độ chết và khí chất “Tư Nghênh”
Vào chiến trường Khu 4, công việc chính của họ là san lấp hố bom, bảo đảm mạch máu giao thông luôn thông suốt. Trọng điểm từ Ba Lòi đến Khe Giao – nơi đơn vị đóng quân – chính là mục tiêu đánh phá ác liệt nhất của không quân Mỹ.
Một buổi sáng tại hiện trường, tiểu đội trưởng Vũ Thị Vinh phát hiện hai quả bom nổ chậm: một quả chúi đầu xuống đất, một quả nằm ngang ngay trong tọa độ quản lý. Không một giây do dự, bà chạy về báo cáo Ban chỉ huy. Với tâm thế “Máu có thể chảy, đường không thể tắc”, một “đội cảm tử” được lập tức thành lập để phá bom và san lấp mặt ngầm. Đoàn xe quân sự đã thông tuyến ngay trong đêm đó, và với chiến công này, bà Vinh đã vinh dự được bầu là Chiến sĩ thi đua toàn quốc.
Trong mưa bom bão đạn, cô gái Nguyễn Thị Hồng Tư (sinh năm 1948), học sinh trường THCS Tam Khương (khu Đống Đa) lại nổi bật với biệt danh “Tư Nghênh”. Bà cười bảo cái tên ấy xuất phát từ vóc dáng cao ráo hơn bạn bè và cái tính chẳng biết sợ là gì. Giữa chiến trường khốc liệt, bà đi lại cứ “nghênh ngang”, không một chút rụt rè. “Anh em bảo: Cái con bé này đi cứ nghênh nghênh chẳng sợ ai, thế là chết tên Tư Nghênh từ đó”.
Những “Cọc tiêu sống” và khúc ca lãng mạn nơi tiền tuyến
Cuối năm 1967, khi gia nhập Đại đội xung kích Thăng Long 343 và tiến sâu vào tuyến trong Trường Sơn, cuộc sống trở nên vô cùng khắc nghiệt. Nhiệm vụ của họ là nổ mìn phá đá mở đường ở những tọa độ nóng bỏng: một bên là vách núi dựng đứng, một bên là vực sâu suối xiết, trên đầu là máy bay Mỹ rình rập.

Bà Trần Thị Thành trò chuyện cùng đồng đội về những kỷ niệm khi nhập ngũ. Ảnh: Bảo Lâm
Bất chấp thiếu thốn, sốt rét rừng hay hiểm nguy cận kề, khí chất của những thiếu nữ Hà Nội vẫn rực cháy nơi tiền tuyến. Trong ký ức của bà Trần Thị Thành, chẳng thể quên lần phụ trách tổ biệt phái, đối mặt với biển lửa để dập cháy, cứu kho xăng chi viện. Hình ảnh người con gái nhỏ nhắn cùng đồng đội lăn xả vần những thùng dầu ra khỏi vùng nguy hiểm đã trở thành biểu tượng cho tinh thần quyết liệt của đội xung kích năm xưa. Nhờ sự can trường này, bà Thành đã được nhận giấy khen đột xuất của Cục Giao thông.
Bà Vinh cũng nhớ lại những ngày bom B-52 rải thảm, tiếng nổ dồn dập như trống liên hồi. Có những đợt năm ngày không có gạo ăn, nhưng bom vừa dứt, các cô gái lại xông ra ngay để cứu đường, cứu xe. Nhắc về Trường Sơn, ánh mắt bà Tư xa xăm khi nhớ về những lần chạm mặt tử thần khi làm nhiệm vụ tiếp phẩm. “Khi vào trong Trường Sơn thực hiện nhiệm vụ của Đại đội xung kích Thăng Long 343, đơn vị bị lụt, ngập mất hai kho lương thực. Tôi cùng các đồng chí khác đi cứu lương thực. Nước suối mỗi trận mưa nó lên ầm ầm, tôi bị nước cuốn trôi đi độ khoảng 3 cây số, tí nữa thì mất xác. May mắn thay, có đồng đội bơi theo, kéo vào bờ từ một cành cây tạt xuống dòng nước xiết”, bà kể, giọng nhẹ nhõm.
Không chỉ đặt thuốc nổ, rồi nín thở chạy vào hầm trú ẩn chờ mìn nổ để đánh bật những gốc cây to, đá tảng xuống vực, các bà còn đảm nhận việc đắp ngầm giúp xe chở đạn dược, lương thực vào tiền phương không bị trơn trượt. Đáng nhớ nhất là những đêm làm “cọc tiêu sống”. Trong ánh pháo sáng mịt mù, các cô gái phải đứng giữa làn đạn, dùng chính thân mình làm mốc chỉ đường cho đoàn xe chỉ dám bật đèn gầm. Giữa gian khổ, tiếng cười vẫn không bao giờ tắt. Bà Thành nhớ lại: “Cuộc sống vất vả thế nào bọn tôi cũng không nản chí. Ăn cháo vẫn hát, vẫn hò, rất là yêu cuộc sống”.
Nhưng chiến tranh cũng đầy rẫy mất mát. Cô gái Lê Kim Liên (phố Cầu Đất) đã hy sinh tại ngầm Long Đại sau một lần phá đá mở đường. “Lúc ấy chúng tôi chỉ biết khóc”, bà Tư nghẹn ngào. Những giọt nước mắt ấy đã thấm xuống đất rừng, trở thành một phần ký ức bất tử của đơn vị.
Viết tiếp bản hùng ca giữa đời thường
Hòa bình lập lại, những “đóa hoa thép” trở về và tiếp tục viết nên những trang đời mới bằng tinh thần xung kích năm xưa. Bà Tư Nghênh dành một năm học dự bị rồi thi đỗ vào Đại học Cơ điện. Tốt nghiệp năm 1975, bà về Sở Lương thực, tận tụy với công việc sửa chữa máy móc dây chuyền. Với vốn tiếng Nga được rèn luyện miệt mài suốt những năm đại học, bà đã có 10 năm đi lao động xuất khẩu tại Nga. Năm 1992, dù nghỉ hưu sớm để chăm lo gia đình, bà vẫn miệt mài với công việc “vác tù và hàng tổng” trong vai trò Chi phó Hội Phụ nữ và Cộng tác viên Dân số tại phường Phúc Lợi.

Những thành viên Đại đội xung kích Thăng Long thắp hương cho các anh hùng liệt sĩ. Ảnh: Bảo Lâm
Bà Vũ Thị Vinh sau khi hoàn thành nhiệm vụ tại đội xung kích Thăng Long đã tiếp tục gắn bó với công tác Đoàn tại Cục Công trình 1, rồi Bộ Giao thông vận tải và về Trung ương Đoàn. Dường như bà chưa bao giờ thực sự rời xa ngọn lửa tuổi trẻ mà mình đã sống trọn vẹn trên tuyến lửa. Còn bà Trần Thị Thành khi trở về đã công tác tại Tạp chí Cộng sản, tham gia công tác xã hội cho đến khi cao tuổi mới nghỉ ngơi. “Năm sau, chúng tôi tròn 60 năm tuổi Đảng. Được làm đảng viên, được cống hiến cho Tổ quốc là niềm tự hào lớn nhất đời tôi”, bà Thành chia sẻ.

Bà Hồng Tư vẫn say mê hát những bài hát bằng tiếng Nga. Ảnh clip: Bảo Lâm
Mỗi khi hội ngộ, những người phụ nữ ấy lại ngồi bên nhau, cùng hát vang những khúc ca Trường Sơn. “Nhờ có tinh thần lạc quan mà chúng tôi đã hoàn thành được nhiệm vụ. Đặc biệt là nghĩa tình đồng đội, sống chết có nhau từ lúc ở chiến trường đến khi về với nhau là thương yêu, động viên, chăm sóc và lo cho nhau”, bà Vinh nhỏ nhẹ tâm sự.
Vượt lên tất cả mất mát, bệnh tật, những nữ thanh niên Đại đội xung kích Thăng Long 343 năm ấy vẫn luôn tự hào về một thời tuổi trẻ đã hiến dâng trọn vẹn cho Tổ quốc. Ở họ chính là biểu tượng ngời sáng của người phụ nữ Việt Nam “Anh hùng, Bất khuất, Trung hậu, Đảm đang”. Thanh xuân của họ đã gửi lại nơi đại ngàn, nhưng tinh thần xung kích ấy sẽ mãi là bản hùng ca bất tử, là ngọn lửa truyền cảm hứng cho thế hệ trẻ Thủ đô hôm nay và mai sau.
Nguyệt Ánh









































































