HẰNG VÀ TÔI

Đăng lúc: 04-05-2026 3:32 Chiều - Đã xem: 9 lượt xem In bài viết

Ảnh internet  

Tôi trở về thăm Đồn Biên phòng cửa khẩu Hồng Vân sau mấy năm rời xa quân ngũ, khép lại cuộc đời binh nghiệp đầy nắng gió bằng một chuyến xe khách chạy tuyến Phú Bài – A Lưới. Chiếc xe khách cũ kỹ, lớp sơn bong tróc gầm rú nặng nề qua những cung đường đèo dốc uốn lượn như dải lụa vắt ngang lưng chừng núi. Tiếng động cơ khô khốc hòa cùng tiếng gió rít qua khe cửa kính vỡ vụn làm hành khách mệt nhoài, ai nấy đều thiu thiu ngủ trong cái lắc lư chao đảo của xe. Ngồi cạnh tôi là một người đàn ông râu ria lởm chởm, mái tóc muối tiêu rối bù và gương mặt sạm nắng, đôi mắt anh đỏ hoe, trũng sâu vì thiếu ngủ lâu ngày. Thấy tôi lặng lẽ quan sát, anh chủ động bắt chuyện bằng một giọng khê nồng vì thuốc lá, kể rằng mấy hôm nay anh cứ trằn trọc lo lắng mãi cho ngày giỗ sắp tới của vợ mình – người phụ nữ mà anh nói rằng cả đời này anh nợ một lời xin lỗi chân thành nhất.

Nhìn bề ngoài, người đàn ông ấy có nét gì đó dữ dằn, thô ráp như một tảng đá rừng, nhưng càng trò chuyện, tôi càng nhận ra đằng sau lớp vỏ bọc sần sùi ấy là một tâm hồn thật thà, chất chứa bao nỗi niềm u uẩn. Đôi lúc, anh dừng lời giữa chừng, nhìn trân trân vào gương mặt tôi như đang cố lục tìm một mảnh ký ức nào đó đã bị thời gian vùi lấp. Ánh mắt xoi mói ấy khiến tôi thấy hơi bất ổn, định vờ nhìn ra cửa sổ để lảng tránh, thì bất ngờ anh vỗ mạnh vào vai tôi một cái khiến tôi nẩy người lên, đầu va vào thành xe đau điếng, tiếng kêu hốt hoảng chưa kịp thoát ra khỏi cổ họng.

Trong không gian chật hẹp và sực nồng mùi dầu máy, một giọng nói trầm thấp nhưng run rẩy vang lên:

– Anh là Tâm! Anh là Tâm ở làng Hội Kỳ phải không?

Vừa đau lại vừa bực bội vì sự đường đột của người lạ, tôi trả lời cộc lốc, không giấu nổi vẻ khó chịu:

– Phải, tôi là Tâm. Có việc gì mà anh làm ghê thế?

– Thật rồi! Đúng là trời xanh có mắt, người tính không bằng trời tính! – Anh hạ giọng, ánh mắt bỗng chốc trở nên dịu lại, đong đầy một nỗi xúc động khó tả – Tôi là Bằng, chồng của Hằng. Ngày Hằng sắp lìa xa cõi đời, cô ấy có trao cho tôi một bức thư viết tay và một tấm hình đen trắng cũ kỹ đã sờn rách bốn góc. Hằng dặn tôi rất kỹ, giọng cô ấy yếu ớt nhưng đầy khẩn thiết: “Hãy trao lại những kỷ vật này cho người trong ảnh, là anh Tâm, đồng đội cũ và cũng là người em hằng mang nợ. Khi nào có dịp về quê, hãy tìm đến làng Hội Kỳ bên kia sông Ô Lâu để đưa tận tay cho anh ấy”. Cô ấy còn trăng trối rằng nếu tôi không thực hiện được tâm nguyện này, linh hồn cô ấy sẽ chẳng thể nào thanh thản mà ra đi. Tôi đã từng về quê anh theo địa chỉ cũ, lặn lội hỏi thăm khắp nơi nhưng người ta bảo anh đã chuyển công tác ra Hà Nội. Lá thư và tấm hình ấy tôi vẫn giữ gìn như một báu vật, nâng niu suốt bao năm qua. Tiện chuyến xe này, tôi tha thiết mời anh ghé về nhà tôi thắp cho Hằng nén nhang, rồi tôi sẽ hoàn trả lại những gì thuộc về anh.

Tôi đặt chiếc cặp lính bạc màu trước hiên nhà, lững thững đi ra bến suối sau nhà rửa tay cho tỉnh táo sau chuyến đi dài. Dòng suối nhỏ uốn lượn quanh căn nhà sàn bê tông, tiếng nước chảy róc rách hòa cùng tiếng gió ngàn xào xạc, bỗng chốc đưa tôi ngược dòng thời gian trở về những địa danh của một thời trai trẻ: Bản Huội San, Bản Đông, Bản Cha Ki… trên đất bạn Lào xa xôi. Nơi ấy, đơn vị tôi ngày xưa đóng quân giữa rừng sâu, nơi ranh giới giữa sự sống và cái chết mỏng manh như sương khói nhưng tình đồng chí lại bền chặt như sắt son. Thiên nhiên nơi A Lưới này có gì đó thật gần gũi với đất Lào: rừng xanh thẳm, suối trong mát đến mức có thể đếm được từng hòn cuội trắng phủ rêu dưới đáy. Dọc bờ suối, những hàng cây cổ thụ to như cột đình xòa tán rộng che khuất cả một khoảng trời, những sợi dây leo gân guốc nối từ thân cây này sang cây khác tựa như những chiếc võng khổng lồ của rừng già. Xa xa, những gốc mận cổ thụ đang mùa trổ hoa, dâng hiến một màu trắng tinh khôi nổi bật trên nền xanh thẫm của đại ngàn rậm rạp.

Tôi vốc một vốc nước mát lạnh phả lên mặt, cảm nhận cái se lạnh của vùng cao thấm vào da thịt, rồi quay sang bảo Bằng đang đứng lặng lẽ phía sau:

– Phong cảnh nơi đây thật lãng mạn quá, có nhiều nét giống rừng núi đất Lào nơi tôi từng có những năm tháng thanh xuân đóng quân xây dựng đường hữu nghị.

Bằng im lặng gật đầu, cái gật đầu nặng trĩu tâm tư. Căn nhà sàn của anh nằm lọt thỏm giữa một thung lũng hẹp, nơi lác đác vài ngôi nhà sàn khác nằm yên bình dưới những tán cà phê đang mùa rộ bông trắng xóa, hương thơm thanh khiết dịu nhẹ lan tỏa khắp không gian. Bước vào nhà, một cảm giác hoang lạnh bao trùm lấy tôi. Góc bếp thiếu bàn tay chăm sóc của người phụ nữ trở nên lạnh lẽo, tro tàn phủ đầy, vài thanh củi khô nằm xiên xẹo bên những chiếc nồi niêu bám đầy bồ hóng. Bát đĩa trên chạn để lộn xộn, bụi bặm của thời gian và sự cô đơn của người đàn ông nát rượu đã hiện rõ trong từng ngóc ngách của ngôi nhà 50 mét vuông này.

Tôi tiến lại gần bàn thờ thắp nén nhang cho Hằng. Mùi trầm quyện trong hương hoa cà phê nồng nàn tạo nên một không gian mờ ảo, thực hư lẫn lộn. Trong làn khói mỏng manh, tôi như thấy bóng dáng Hằng hiện về, gương mặt em trẻ trung như ngày nào, tay cầm nhành hoa cà phê trắng muốt mỉm cười trao cho tôi. Nhưng khi tôi vừa định đưa tay đón nhận nhành hoa ấy, hình bóng Hằng lại lùi dần vào bóng tối, tan biến vào làn sương chiều đang phủ kín thung lũng. Tôi bước ra hành lang, tay run rẩy bóc lá thư đã ố vàng, đôi mắt dán chặt vào những dòng chữ nhạt nhòa vết mực. Nước mắt tôi bỗng trào ra, thấm ướt cả trang giấy, khiến những con chữ vốn đã mờ nay càng thêm nhòe nhoẹt. Mọi ký ức của một thời quân ngũ hào hùng và đau đớn ùa về như một thước phim chậm quay lại những năm tháng tươi đẹp nhất của cuộc đời…

Tôi quen Hằng trong một buổi báo động hành quân của đơn vị. Vì quá vội vàng và chưa thạo cách sắp xếp, chiếc ba lô của tôi buộc không chặt làm tư trang tuột ra vương vãi khắp mặt đất, chính Hằng là người đã nhanh tay thu dọn, buộc lại chắc chắn giúp tôi kịp thời bước vào hàng ngũ trước khi chỉ huy điểm quân. Đơn vị chúng tôi ngày ấy huấn luyện tại Cộn, một vùng đất thuộc thị xã Đồng Hới đầy nắng gió. Đó là nơi có cái nắng cháy da và gió Lào sàn sạt, khô khốc thổi qua những đồi tràm trụi lá, xơ xác, cuốn theo những đám bụi mù mịt mỗi khi có một cơn gió tạt qua.

Một ngày chủ nhật hiếm hoi đơn vị được nghỉ huấn luyện, trong khi đồng đội kẻ đi gửi thư, người đi cắt tóc hay tụ tập nơi quán cà phê nghèo, tôi lại lững thững đi dạo quanh khu vực lán nữ thì tình cờ gặp lại Hằng. Em nhanh nhảu mời tôi vào phòng chơi, căn phòng nhỏ nhưng ngăn nắp, sạch sẽ, chăn màn gấp vuông vức như những bao diêm.

Chỉ có Hằng ở nhà một mình. Mấy cô bạn cùng phòng với em người đi chợ, người đi thăm bạn bè xa gần. Trong không gian tĩnh lặng ấy, tôi bỗng thấy mình vụng về lạ kỳ, không biết mở đầu câu chuyện như thế nào cho tự nhiên, chỉ biết lặp đi lặp lại những lời cảm ơn chân thành về việc em giúp tôi hôm báo động hành quân. Hằng dường như mạnh dạn và chủ động hơn tôi tưởng rất nhiều, em khẽ hỏi:

– Anh Tâm quê ở đâu?

– Anh ở làng Hội Kỳ, Hải Lăng đó em.

Vừa nghe đến địa danh ấy, đôi mắt Hằng sáng rực lên đầy ngạc nhiên:

– Ôi! Rứa là anh đồng hương với em rồi. Làng em là Phước Tích, Phong Điền bên ni sông Ô Lâu đối diện làng anh đó.

Tôi nhìn Hằng, nụ cười rạng rỡ của em như xóa tan mọi khoảng cách và sự bỡ ngỡ ban đầu. Tôi khẽ đáp để tạo thêm sự thân thiện:

– Ừ, rứa là chúng mình cùng là lính đồng hương Bình Trị Thiên rồi!

Tôi kể cho Hằng nghe về dòng sông quê hương, về dòng Ô Lâu xanh ngắt chảy hiền hòa giữa những xóm làng trù phú. Tôi còn tán dóc với em về câu ca dao xưa: “Trăm năm còn lỗi hẹn hò/ Cây đa bến cũ con đò khác xưa/ Con đò đã thác năm xưa/ Cây đa bến cũ còn lưu bóng người”. Hằng im lặng mỉm cười, đôi mắt em lấp lánh như chứa đựng cả một bầu trời sao, cái nhìn ấy dường như thấu tận tâm can tôi, khiến tôi bối rối phải lảng sang chuyện khác. Tôi kể cho em nghe chuyện ngày xưa đi chăn trâu thường cùng lũ bạn bơi sang sông hái trộm đào, bị chủ nhà xua chó đuổi chạy thục mạng qua những bãi bùn. Kết thúc câu chuyện, tôi nhìn Hằng và nói một câu bâng quơ nhưng đầy ngụ ý:

– Ước chi sau này anh được “sở hữu” cây đào cổ thụ bên bến sông Phước Tích ấy nhỉ.

Hằng không nói gì, chỉ lấy tay bụm miệng để khỏi bật cười thành tiếng, đôi gò má ửng hồng trong nắng chiều.

Giữa năm 1985, sau khi hoàn thành khóa huấn luyện, cả hai chúng tôi cùng được phân công về Sư đoàn 384, tham gia xây dựng con đường hữu nghị trên đất Lào. Công việc tại công trường vô cùng nặng nhọc với sắt thép, bê tông và bùn đất. Áo quần chúng tôi lúc nào cũng sặc mùi xi măng, mồ hôi trộn lẫn bụi bặm đóng vón lại trên vai áo thành những mảng trắng xóa. Gian khổ là thế, nhưng chính những giây phút nghỉ giải lao bên bờ suối, khi tôi trèo lên những cây săng lẻ hái phong lan tặng Hằng, lại là những kỷ niệm ngọt ngào nhất. Em nâng niu nhành hoa tím điểm trắng ấy, giấu nụ hôn thẹn thùng lên cánh hoa duyên dáng khi thấy tôi nhìn em âu yếm.

Con đường nối Khe Sanh với nước bạn Lào hoàn thành vào năm 1988, đánh dấu sự kết thúc của ba năm quân ngũ đầy kỷ niệm. Tôi được cử đi học Trường Sĩ quan, còn Hằng thì xuất ngũ trở về quê hương. Đêm cuối cùng bên bờ suối, dưới gốc sung già trĩu quả, chúng tôi ngồi sát bên nhau trong sự tĩnh lặng của đại ngàn. Mái tóc Hằng thoảng thơm mùi hoa rừng chạc chìu dịu nhẹ, khiến lòng tôi rạo rực khôn nguôi. Dưới ánh trăng rằm sáng rõ, tôi đã ôm em vào lòng và thổ lộ tình yêu cháy bỏng bấy lâu nay. Đêm ấy, tiếng quả sung chín rơi tõm xuống dòng suối như chứng nhân cho một mối tình trong trắng nhưng đầy nồng cháy trước ngày chia ly mỗi người một ngả.

Ra trường sau những năm tháng miệt mài đèn sách, tôi được nghỉ phép và vội vã tìm về quê Hằng với ý định thưa chuyện cùng gia đình em. Thế nhưng, đời người không như là mơ, tôi bàng hoàng nhận được tin Hằng đã đi lấy chồng và theo chồng vào vùng kinh tế mới tận A Lưới xa xôi. Tôi lặng người đi giữa bến sông quê, nỗi đau hụt hẫng bóp nghẹt trái tim, tự hỏi vì sao bao năm qua em không một dòng tin tức, không một lời giải thích cho tôi.

Những dòng chữ thấm đẫm lệ của Hằng trong lá thư trăng trối giờ đây khiến tôi quặn lòng:

Anh Tâm yêu thương của em!

Khi anh đọc được những dòng này, có lẽ em đã không còn hiện hữu trên đời nữa. Em viết bức thư này để anh hiểu thấu nỗi lòng em. Bé Thư chính là kết quả của đêm cuối cùng bên bờ suối trên đất Lào của chúng mình. Em đã phải chịu đựng bao tủi nhục, bao lời đàm tiếu ác nghiệt của người đời để nuôi con khôn lớn trong sự thiếu vắng bàn tay cha. Khi con trưởng thành, nếu có duyên anh hãy nói để con biết về cội nguồn máu mủ của mình. Anh Bằng là một người tốt, anh ấy đã thay anh gánh vác trách nhiệm, nuôi dạy con của chúng ta nên người dù trái tim anh ấy cũng đầy những vết sẹo…

Bên mâm cơm đạm bạc chỉ có hai người đàn ông, Bằng dốc hết bầu tâm sự trong nỗi hối hận muộn màng, những giọt nước mắt lăn dài trên gương mặt khắc khổ:

– Ngày đó tôi cũng yêu Hằng bằng một tình yêu chân thành nhất của tuổi trẻ. Khi mẹ Hằng lâm bệnh nặng nằm bệnh viện, tôi đã thay cô ấy chăm sóc bà cụ suốt đêm ngày không quản ngại gian khổ. Để trả món nợ ân tình ấy, bà cụ đã ép Hằng phải lấy tôi bằng mọi giá. Hằng đã khóc cạn nước mắt, kể cho mẹ nghe về người yêu đang học sĩ quan, nhưng bà cụ dọa sẽ chết ngay trước mặt nếu cô ấy không bằng lòng. Thương mẹ, Hằng cắn răng bước lên xe hoa với tôi. Bé Thư chào đời khi chúng tôi cưới nhau chưa đầy tám tháng, người đời đồn thổi, thêu dệt bao chuyện tình ái khiến tôi buồn bực rồi sinh ra rượu chè, cờ bạc để giải sầu. Có lần vì quá uất ức bởi những lời khích bác bên ngoài, tôi đã giáng một cái tát mạnh vào mặt Hằng vì nghi ngờ cô ấy phản bội. Hằng im lặng, một sự im lặng lạnh lùng đến đáng sợ, em chỉ lặng lẽ bế con vào lòng, ánh mắt ấy cứ ám ảnh tôi suốt cả cuộc đời…

Bằng cúi đầu, giọng anh nghẹn lại như có khối đá chặn ngang cổ:

– Để trốn chạy lời dị nghị, chúng tôi dắt díu nhau vào A Lưới lập nghiệp. Thư càng lớn càng xinh đẹp, mang bóng dáng của em năm xưa, còn Hằng thì cứ tiều tụy dần rồi qua đời vì một căn bệnh nan y không phương cứu chữa. Hiện giờ Thư đã lấy chồng và đang sinh sống ở thành phố Huế, nó sống tử tế lắm anh ạ.

Tôi vội vã trở về Huế theo địa chỉ mà Bằng đã cung cấp, nôn nóng muốn tìm lại đứa con gái sau mấy mươi năm xa cách đằng đẵng. Thế nhưng, trớ trêu thay, cơn đau dạ dày kinh niên đột ngột hành hạ khiến tôi phải vào Bệnh viện Trung ương Huế cấp cứu. Sau mười ngày điều trị, khi vừa xách cặp chuẩn bị bước ra cổng bệnh viện, tôi bắt gặp một cô gái hớt hải chạy khắp các hành lang, gương mặt nhạt nhòa nước mắt, giọng nói lạc đi vì tuyệt vọng:

– Mọi người ơi! Có ai mang nhóm máu O không? Xin hãy cứu con tôi… Cháu bị tai nạn giao thông, đang mất máu cấp cứu mà kho máu bệnh viện lại đang cạn kiệt!

Cô gái nhìn tôi bằng ánh mắt cầu khẩn, một cái nhìn khiến tôi sững sờ vì nó quá giống với đôi mắt của Hằng năm xưa. Tôi rút ví đưa cô một ít tiền thuốc thang, khẽ nói lời xin lỗi vì mình cũng vừa ra viện, sức khỏe còn rất yếu nên chẳng thể giúp gì thêm được. Cô gái cảm ơn rồi lại tất tả chạy đi trong sự vô vọng. Nhưng hình ảnh đứa bé đang quằn quại và ánh mắt của người mẹ trẻ ấy cứ bám lấy tôi, thôi thúc một bản năng nào đó từ sâu thẳm tâm hồn. Tôi không thể quay lưng bước đi như một kẻ xa lạ. Bằng một sức mạnh vô hình, tôi quay lại khoa cấp cứu, hy vọng nhóm máu O của mình có thể giành lại sự sống cho cháu bé từ tay tử thần.

Khi tôi tỉnh lại sau cơn mê mệt vì mất máu, tôi thấy mình đang nằm trên giường bệnh. Bằng đang đứng đó, gương mặt lộ rõ vẻ xúc động, anh chỉ tay sang cô gái đang ngồi bên cạnh tôi:

– Thư đó! Đây chính là Thư, con gái của anh đó Tâm ơi!

Tôi nhìn trân trân vào cô gái, trái tim đập liên hồi như muốn nhảy ra khỏi lồng ngực. Đó chính là người mẹ trẻ hôm qua tôi đã hiến máu để cứu con cô ấy. Khuôn mặt ấy, nước da ấy và ánh mắt hiền từ ấy, đúng là Hằng đã hiện về trong hình hài của con gái chúng tôi. Thư nhẹ nhàng ngồi xuống, ôm chầm lấy tôi rồi nức nở kêu lên:

– Ba ơ…i! Thư đây, con gái của ba đây! Ba đã cứu sống con trai con rồi ba ơi!

Những giọt nước mắt hạnh phúc vỡ òa lăn dài trên gò má nhăn nheo của tôi, rơi xuống bàn tay Thư đang nắm chặt tay tôi nóng ấm. Tôi cố nén xúc động, dìu nhau sang phòng bệnh bên cạnh nhìn đứa cháu ngoại bụ bẫm đang ngủ say sau một đêm cấp cứu thành công. Những giọt máu của tôi đang chảy trong huyết quản của cháu, sợi dây liên kết máu mủ kỳ diệu mà bấy lâu nay tôi không hề hay biết đã kéo chúng tôi về lại bên nhau.

“Hằng ơi! Vậy là anh đã toại nguyện, đã thực hiện được lời trăng trối cuối cùng của em trước khi em đi xa. Anh sẽ dành phần đời còn lại để bảo vệ, chăm sóc cho con và cháu, bù đắp tất cả những mất mát, thiệt thòi mà chúng đã phải gánh chịu suốt bao năm qua trong bóng tối của sự hiểu lầm.”

Ngọn gió đầu hạ mơn man trên mái đầu bạc trắng của tôi, mang theo hương vị của dòng sông Ô Lâu quê nhà. Tôi thấy lòng mình thanh thản và hạnh phúc vô ngần, một sự cứu chuộc muộn màng nhưng đầy ý nghĩa.

Nguyễn Đại Duẫn