GIẢI TRÌNH CÁC NỘI DUNG DƯ LUẬN XÃ HỘI QUAN TÂM TRONG DỰ THẢO LUẬT XỬ LÝ VI PHẠM HÀNH CHÍNH (SỬA ĐỔI)

Đăng lúc: 26-10-2026 9:39 Sáng - Đã xem: 18 lượt xem In bài viết

Dự thảo Luật Xử lý vi phạm hành chính (sửa đổi) đã sửa đổi, bổ sung nhiều nội dung quan trọng, trong đó có một số điểm đại biểu Quốc hội còn ý kiến khác nhau. Việc sửa đổi xuất phát từ các nghị quyết của Đảng về rà soát, sửa đổi văn bản chồng chéo, phù hợp với mô hình chính quyền địa phương hai cấp và đẩy mạnh chuyển đổi số. Sau 13 năm thi hành, Luật Xử lý vi phạm hành chính hiện hành đã bộc lộ nhiều hạn chế, nên cần sửa đổi, bổ sung toàn diện.

Chính phủ trình dự án theo Tờ trình số 665/TTr-CP ngày 08/9/2026. Sau khi tiếp thu ý kiến của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Thường trực Ủy ban Pháp luật và Tư pháp và các đại biểu chuyên trách, Chính phủ có Tờ trình số 879/TTr-CP ngày 10/10/2026.

I. Thẩm quyền quản lý công tác thi hành pháp luật xử lý vi phạm hành chính

Ý kiến: Dự thảo không quy định cụ thể cơ quan chịu trách nhiệm trước Chính phủ quản lý công tác này, dẫn đến không rõ đầu mối chính, trong khi các nội dung liên quan đến quyền con người, quốc phòng, an ninh, trình tự tố tụng cần xác định rõ cơ quan chủ trì.

Giải trình:

  • Về chính trị: Phù hợp Nghị quyết số 66-NQ/TW ngày 30/4/2025 của Bộ Chính trị. Luật chỉ quy định những vấn đề ổn định, lâu dài, liên quan quyền con người, quyền công dân và các nguyên tắc lớn. Nội dung kỹ thuật, quy trình, tổ chức thực hiện giao Chính phủ quy định chi tiết.
  • Về pháp lý: Khoản 3, khoản 5 Điều 96 Hiến pháp và khoản 4 Điều 6 Luật Tổ chức Chính phủ cho phép Chính phủ thống nhất quản lý và phân công phạm vi quản lý giữa các bộ, cơ quan ngang bộ. Văn bản số 229/UBTVQH16-PLTP và Văn bản số 9406/VPCP-TCCV không yêu cầu ghi tên cơ quan đối với nhóm việc này.
  • Về thực tiễn: Chính phủ thường xuyên điều chỉnh phân công giữa các cơ quan. Nếu ghi cứng trong luật, mỗi lần điều chỉnh sẽ phải sửa luật.
  • So sánh: Nhiều luật mới ban hành gần đây (Viên chức 2025, Cán bộ, công chức 2025, Thương mại điện tử 2025, Hòa giải ở cơ sở 2026, Dầu khí 2026, Thi đua, khen thưởng sửa đổi 2026) cũng không ghi tên cơ quan đầu mối. Việc phân công được quy định trong nghị định.

Kết luận: Chính phủ sẽ phân công cụ thể trong nghị định quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành.

II. Thời hiệu, mức phạt tiền và hình thức xử phạt

1. Thời hiệu xử phạt

Ý kiến: Đề nghị cân nhắc nâng thời hiệu từ 01–02 năm lên 01–03 năm, nhưng cần phân hóa theo lĩnh vực để bảo đảm ngăn chặn kịp thời.

Giải trình: Dự thảo nâng thời hiệu tối đa từ 02 năm lên 03 năm, và lên 02 hoặc 03 năm đối với một số lĩnh vực phức tạp, cần nhiều thời gian xác minh, giám định: an toàn thực phẩm, chất lượng sản phẩm hàng hóa, bảo vệ môi trường, khoáng sản. Cơ quan soạn thảo sẽ tiếp tục rà soát với các bộ, ngành để đề xuất thời hiệu phù hợp từng lĩnh vực.

2. Mức phạt tiền

Ý kiến: Nâng mức phạt tối đa từ 1 tỷ lên 1,5 tỷ đồng đối với cá nhân và từ 2 tỷ lên 3 tỷ đồng đối với tổ chức (tăng 1,5 lần) là cao, có thể vượt khả năng tài chính của nhiều người dân và doanh nghiệp vừa và nhỏ, dẫn đến trốn tránh thi hành. Cần ưu tiên biện pháp khắc phục hậu quả và hình thức phạt bổ sung.

Giải trình: Mức tăng nhằm phù hợp với mức tăng lương cơ sở, thu nhập bình quân và phát triển kinh tế – xã hội, bảo đảm tính răn đe trong các lĩnh vực bảo vệ môi trường, an toàn thực phẩm, chất lượng sản phẩm, phòng cháy chữa cháy, cứu nạn cứu hộ, khám bệnh chữa bệnh. Khi xây dựng nghị định xử phạt từng lĩnh vực, Chính phủ sẽ rà soát mức phạt cụ thể và áp dụng linh hoạt các hình thức khác như tước quyền sử dụng giấy phép, chứng chỉ hành nghề có thời hạn, đình chỉ hoạt động có thời hạn, tịch thu tang vật, phương tiện và các biện pháp khắc phục hậu quả.

III. Biện pháp cưỡng chế thi hành quyết định xử phạt

Ý kiến: Đây là biện pháp cưỡng chế nhà nước, tác động trực tiếp đến quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức. Việc bổ sung cần quán triệt chủ trương của Đảng (trong đó có Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV về bảo đảm công lý, quyền con người, quyền công dân), quy định cụ thể trình tự, thủ tục, điều kiện, thời hạn áp dụng và đánh giá tác động đầy đủ.

Giải trình:

a) Thực trạng: Hiện chỉ có 05 biện pháp cưỡng chế, phần lớn phục vụ thi hành quyết định phạt tiền. Các hình thức phạt bổ sung như tước giấy phép, đình chỉ hoạt động và biện pháp khắc phục hậu quả chưa có cơ chế cưỡng chế khi người vi phạm không tự nguyện thi hành, dẫn đến quyết định không được thi hành hoặc thi hành không đầy đủ.

b) Các biện pháp bổ sung:

  • Tạm hoãn xuất cảnh đối với cá nhân, người đứng đầu tổ chức chưa thi hành xong quyết định xử phạt, nhằm ngăn việc lợi dụng xuất cảnh để né tránh nghĩa vụ.
  • Niêm phong trụ sở, địa điểm, cơ sở hoặc bộ phận cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ khi không chấp hành biện pháp đình chỉ hoạt động hoặc biện pháp khắc phục hậu quả.
  • Yêu cầu ngừng cung cấp điện, nước đối với công trình, cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ vi phạm khi không chấp hành các biện pháp tương ứng.
  • Tạm dừng đăng kiểm, đăng ký xe, cấp giấy phép lái xe khi không chấp hành biện pháp tước quyền sử dụng giấy phép, chứng chỉ hành nghề.
  • Yêu cầu ngừng cung cấp dịch vụ Internet, viễn thông, hạ tầng số hoặc chặn truy cập đối với trường hợp không chấp hành trên môi trường điện tử.

c) Dự thảo đã đánh giá tác động kỹ lưỡng và quy định chặt chẽ nguyên tắc, điều kiện áp dụng, bảo đảm không ảnh hưởng đến cá nhân, tổ chức không liên quan đến hành vi vi phạm.

IV. Các biện pháp cưỡng chế liên quan đến quyền con người, quyền công dân

Ý kiến: Tạm hoãn xuất cảnh, ngừng cung cấp điện nước, ngừng dịch vụ Internet và viễn thông tác động lớn đến quyền con người, quyền công dân, cần được quy định chặt chẽ về nguyên tắc, điều kiện áp dụng ngay trong dự thảo Luật.

Giải trình:

a) Sự cần thiết: Qua thực tiễn, nhiều cá nhân, người đại diện tổ chức lợi dụng việc xuất cảnh để trì hoãn nghĩa vụ; nhiều cá nhân, tổ chức cố tình chây ỳ, tiếp tục hoạt động để thu lợi. Đối với vi phạm trên môi trường số, đặc biệt là thương mại điện tử xuyên biên giới, có trường hợp đối tượng là tổ chức, cá nhân nước ngoài cung cấp dịch vụ qua Internet nhưng không có trụ sở, chi nhánh hay văn phòng đại diện tại Việt Nam, nên các biện pháp truyền thống khó hoặc không thể thực hiện.

b) Căn cứ pháp lý hiện hành:

  • Ngừng cung cấp điện, nước: khoản 2 Điều 33 Luật Thủ đô năm 2024; khoản 2 Điều 32 Thông tư số 05/2024/TT-BXD.
  • Tạm hoãn xuất cảnh: khoản 6 Điều 36 Luật Xuất cảnh, nhập cảnh của công dân Việt Nam năm 2019 (sửa đổi, bổ sung năm 2023).
  • Ngừng dịch vụ Internet, viễn thông, hạ tầng số: điểm b khoản 1 Điều 39 Luật Thương mại điện tử số 122/2025/QH15 (chặn truy cập, tạm ngừng chức năng giao dịch, gỡ bỏ nội dung vi phạm, tạm ngừng hoặc chấm dứt tài khoản vi phạm).

c) Việc bổ sung các biện pháp này là phù hợp, đồng bộ với hệ thống pháp luật; dự thảo đã quy định chặt chẽ điều kiện áp dụng, bảo đảm quyền con người, quyền công dân.

V. Chuyển thẩm quyền áp dụng biện pháp đưa đi cai nghiện bắt buộc, đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc

Ý kiến: Chuyển thẩm quyền từ Tòa án nhân dân khu vực sang Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã là chưa phát huy tinh thần cải cách tư pháp theo Nghị quyết số 49-NQ/TW. Chính quyền cấp xã đang ở tình trạng quá tải trong thời gian đầu thực hiện mô hình chính quyền hai cấp, cần cân nhắc thận trọng.

Giải trình:

a) Cơ sở chính trị: Ngày 18/10/2026, Văn phòng Trung ương Đảng có Công văn số 5841-CV/VPTW thông báo ý kiến của Bộ Chính trị, đồng ý định hướng chuyển thẩm quyền này.

b) Cơ sở thực tiễn:

  • Đối với cai nghiện bắt buộc: tính đến ngày 14/01/2026, cả nước có 145.461 người sử dụng trái phép chất ma túy và người nghiện, trong đó 87.946 người ngoài xã hội, 10.714 người trong trại tạm giam, nhà tạm giữ và 46.801 người trong cơ sở cai nghiện. Hiện quy trình gồm tạm giữ tối đa 05 ngày để xác định tình trạng nghiện, sau đó chuyển Tòa án khu vực xem xét, quyết định trong tối đa 20 ngày. Trong thời gian chờ, chưa có cơ chế quản lý đối tượng, dẫn tới nguy cơ bỏ trốn khỏi nơi cư trú hoặc phạm tội. Công an cấp xã trực tiếp quản lý địa bàn, đối tượng và lập hồ sơ, nhưng phải chờ Tòa án quyết định, làm phát sinh khâu trung gian, kéo dài thời gian xử lý.
  • Đối với đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc: thủ tục tương tự cai nghiện bắt buộc. Năm 2025, toàn quốc mới có 349 đối tượng bị áp dụng biện pháp này, nhưng thẩm quyền của Tòa án vẫn tạo điểm nghẽn pháp lý, gây khó khăn cho việc phòng ngừa, ngăn chặn tội phạm.

c) Mục tiêu của việc chuyển thẩm quyền: Cắt giảm trình tự, thủ tục, thời gian chuyển hồ sơ; đưa người nghiện và người vi phạm kịp thời vào cơ sở cai nghiện, cơ sở giáo dục bắt buộc; quản lý chặt đối tượng trong thời gian chờ quyết định; phù hợp chủ trương phân cấp, phân quyền sau khi tổ chức chính quyền địa phương hai cấp; giảm tải cho Tòa án; phát huy vai trò, trách nhiệm của chính quyền cơ sở trong bảo đảm an ninh, trật tự và xây dựng xã hội không ma túy.

d) Về khả năng đảm nhiệm của cấp xã: Cấp xã là nơi trực tiếp nắm tình hình địa bàn, quản lý dân cư, tiếp nhận và xác minh thông tin liên quan. Việc tổ chức thực hiện được đặt trong tổng thể phương án kiện toàn bộ máy, nhân lực và nguồn lực theo mô hình chính quyền hai cấp, đồng thời tăng cường hướng dẫn nghiệp vụ, kiểm tra, giám sát và cơ chế phối hợp giữa cấp xã với cấp tỉnh.

đ) Bảo đảm quyền con người: Việc phân cấp không nhằm phủ nhận vai trò của Tòa án trong bảo vệ quyền con người. Dự thảo quy định chặt chẽ căn cứ, điều kiện, trình tự, thủ tục, trách nhiệm của người có thẩm quyền, quyền khiếu nại, khởi kiện và cơ chế kiểm tra, giám sát.

VI. Không lập biên bản đối với vi phạm phát hiện bằng phương tiện, thiết bị kỹ thuật, nghiệp vụ

Ý kiến: Biên bản vi phạm hành chính là căn cứ ghi nhận ý kiến, việc giải thích quyền, nghĩa vụ và quyền giải trình của người vi phạm. Việc không lập biên bản trong mọi trường hợp phát hiện bằng phương tiện, thiết bị kỹ thuật, nghiệp vụ có thể dẫn đến áp dụng dàn trải, tùy nghi, ảnh hưởng quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức.

Giải trình:

  • Kết quả thu thập bằng phương tiện, thiết bị kỹ thuật, nghiệp vụ (cân kiểm tra tải trọng, phương tiện đo nồng độ cồn, hệ thống camera giám sát an ninh, trật tự, giao thông) phải được ghi nhận bằng văn bản, gồm: tên cơ quan, đơn vị và chữ ký, họ tên người sử dụng thiết bị; thông tin cá nhân, tổ chức vi phạm (nếu xác minh được); hình ảnh, âm thanh, chỉ số đo, phân tích; thời gian, địa điểm, hành vi vi phạm. Các thông tin này tương ứng với các nội dung quan trọng của biên bản vi phạm hành chính.
  • Trường hợp chưa đủ căn cứ ra quyết định hoặc thuộc diện giải trình, người có thẩm quyền không lập biên bản nhưng phải thực hiện các thủ tục tại Điều 47 (xác minh tình tiết), Điều 48 (thu thập phương tiện điện tử, dữ liệu điện tử), Điều 49 (xác định giá trị tang vật, phương tiện vi phạm) và Điều 50 (giải trình) của dự thảo Luật. Các thủ tục này đều phải lập văn bản thể hiện quá trình và kết quả thực hiện, bảo đảm ghi nhận khách quan, chính xác, đầy đủ.

Do đó, không cần lập biên bản trong các trường hợp này vẫn bảo đảm tính chính xác, khách quan; đồng thời rút ngắn quy trình, thời gian xử phạt, phù hợp yêu cầu cải cách thủ tục hành chính và chuyển đổi số trong quản lý nhà nước.

VII. Tính thống nhất với Bộ luật Hình sự (sửa đổi)

Ý kiến: Cần tiếp tục rà soát, đối chiếu dự thảo Luật với các dự thảo luật trình Kỳ họp thứ 2, đặc biệt là dự thảo Bộ luật Hình sự (sửa đổi), để không tạo khoảng trống pháp lý hoặc chồng lấn giữa tội phạm và vi phạm hành chính.

Giải trình: Dự thảo Luật Xử lý vi phạm hành chính và dự thảo Bộ luật Hình sự (sửa đổi) được rà soát bảo đảm đồng bộ, thống nhất, phân định rõ trách nhiệm hình sự với trách nhiệm hành chính:

  • Về đối tượng: Xử phạt hành chính áp dụng đối với cá nhân, tổ chức (bao gồm pháp nhân thương mại, người không quốc tịch, cá nhân, tổ chức nước ngoài). Trách nhiệm hình sự áp dụng đối với cá nhân, pháp nhân thương mại, người không quốc tịch, người nước ngoài và pháp nhân thương mại nước ngoài. Các biện pháp xử lý hành chính đối với cá nhân vi phạm pháp luật về an ninh, trật tự, an toàn xã hội (không phải tội phạm) không áp dụng đối với người nước ngoài.
  • Về mức phạt tiền: Dự thảo Luật Xử lý vi phạm hành chính quy định từ 50.000 đồng đến 1,5 tỷ đồng đối với cá nhân và từ 100.000 đồng đến 3 tỷ đồng đối với tổ chức. Dự thảo Bộ luật Hình sự quy định từ 5 triệu đến 12 tỷ đồng đối với cá nhân và từ 100 triệu đến 40 tỷ đồng đối với pháp nhân thương mại. Khi xây dựng nghị định xử phạt, Chính phủ sẽ rà soát khung phạt, mức phạt cụ thể cho từng hành vi, bảo đảm phù hợp với mức phạt tương ứng trong Bộ luật Hình sự.
  • Về chuyển hồ sơ: Nếu hành vi có dấu hiệu tội phạm, người có thẩm quyền phải chuyển hồ sơ cho cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng hình sự. Đối với vụ việc đã được cơ quan tố tụng giải quyết nhưng ban hành quyết định không khởi tố, hủy bỏ quyết định khởi tố, đình chỉ điều tra, đình chỉ vụ án, miễn trách nhiệm hình sự mà hành vi vẫn có dấu hiệu vi phạm hành chính, cơ quan đang thụ lý phải xử phạt theo thẩm quyền; trường hợp không có thẩm quyền xử phạt thì chuyển quyết định, hồ sơ (bản sao y), tang vật, phương tiện và văn bản đề nghị xử phạt cho người có thẩm quyền, trừ tang vật, phương tiện là vật chứng.
  • Về tình tiết “đã bị xử phạt vi phạm hành chính”: Dự thảo Bộ luật Hình sự quy định 91 tội phạm có tình tiết này. Trong quá trình xây dựng nghị định xử phạt, Chính phủ sẽ rà soát các hành vi vi phạm hành chính để bảo đảm thống nhất với các tội phạm tương ứng.

Theo Hương Sen Việt