TRỌNG ĐIỂM NHỮNG NGÀY CHIẾN DỊCH
Tháng 2 năm 1971, Chiến dịch Đường 9 – Nam Lào đang vào giai đoạn đỏ lửa. Đơn vị chúng tôi đóng quân tại Km70 trên trục Đường 10, nhận trọng trách quản lý cung đường từ Km68 đến Km72 dưới sự chỉ đạo của Tổng đội 44.
Trong sơ đồ tác chiến, Km72 không chỉ là một con số. Đó là điểm giao cắt với đường 16A từ Thạch Bàn (Lệ Thủy, Quảng Bình) hướng sang, được anh em gọi bằng cái tên đầy kiêu hãnh: Ngã ba Dân Chủ[1]. Với giặc Mỹ, đây là “yết hầu” cần thắt chặt. Với chúng tôi, đây là tọa độ lửa. Trong cuộc họp giao ban, Đại đội trưởng Nguyễn Trọng Tài đập tay xuống tấm bản đồ, giọng đanh thép: “Bằng mọi giá phải giữ mạch máu thông suốt. Tuyến đường còn, chúng ta còn!”

Buổi chiều hôm ấy, mặt đất rung chuyển. Phía bên kia ngầm Km71, ba chiếc xe Zin ba cầu chở đầy hàng bị chặn đứng bởi một khối lượng đất đá khổng lồ vừa đổ ụp xuống sau loạt bom tọa độ. Trung đội trưởng Nguyễn Hữu Tấn áp sát ống nghe điện đài, báo gấp về Tổng đội xin chi viện. Chỉ ít giờ sau, tiếng động cơ gầm rú của chiếc máy húc C100 đã vang lên giữa trọng điểm, cùng 10kg thuốc nổ TNT sẵn sàng phá đá.
Cả trung đội lao vào trận chiến mới. Không khí lao động đặc quánh mùi thuốc súng và bụi đường. Người xẻng, kẻ cuốc, nhịp nhàng và hối hả như một cỗ máy. Khi mặt trời bắt đầu khuất sau rặng núi xa, những ánh đèn sương mù mờ ảo bắt đầu xuyên qua làn khói. 17 giờ, 18 giờ rồi 21 giờ… tiếng cuốc xẻng chát chúa vẫn không ngơi nghỉ. Khi chiếc xe cuối cùng lách qua đoạn cua vừa được giải phóng, tiếng reo hò mới vỡ òa. Trên những khuôn mặt bết đầy đất đỏ Quảng Bình, nụ cười rạng rỡ như những đóa hoa rừng vừa hé nở sau cơn mưa bom.
Đêm đó, trong căn hầm sát mép suối, tiếng hát bỗng vút lên: “Ta đi mở đường theo tiếng gọi của tiền tuyến… đem hiến dâng tuổi xuân cho mạch giao thông nối liền…” Một loạt bom tọa độ nổ rền từ xa làm rung chuyển cả vách hầm, ngắt ngang dòng cảm xúc. Chử – tay chiến sĩ lém lỉnh nhất Tiểu đội 1, phủi lớp bụi đất trên vai, lẩm bẩm bằng giọng tếu táo:
- Chúng mày cứ ném đi! Ném cho hết kho đi rồi lúc ấy đừng có mà huênh hoang với ông!
Tiếng cười lại rộ lên, xua tan cái chết chóc đang rình rập bên ngoài.
Không chỉ ở Ngã ba Dân Chủ, không khí thi đua “vắt đất ra nước, thay máu thông đường” lan tỏa khắp toàn tuyến. Các tiểu đội của đồng chí Đỗ Thị Vận và Phùng Sỹ Kền cũng đang đánh vật với đá tảng ở Km68. Trên bầu trời, pháo sáng từ máy bay Mỹ rơi xuống lừng lững như những chiếc ô lửa, soi mói từng tán lá, tìm kiếm bóng hình những chiếc xe vận tải.
Những ngày chiến dịch, toàn bộ các đơn vị từ C445 đến C449 đều sống trong một nhịp thở gấp gáp. Ngoài bám đường, anh em còn thay nhau luồn rừng, lội suối vận chuyển thương binh. Có những đêm lạc giữa đại ngàn âm u, tay dò dẫm từng gốc cây, nhưng chỉ cần nghĩ đến việc đưa các chiến sĩ về đến trạm phẫu an toàn, đôi chân dường như lại mọc thêm cánh.
Khi hoàng hôn lịm dần dưới tán lá rừng của dải Trường Sơn cũng là lúc những chiếc Zin ba cầu “rùng mình” thức giấc. Đó là thời khắc nguy hiểm nhất. Đám F4 và B52 bắt đầu “đi ăn đêm”, chúng lồng lộn thả pháo sáng chao đảo cả một vùng trời. Lợi dụng những giây phút máy bay rời tầm quan sát, các tay lái Trường Sơn tăng tốc vượt qua trọng điểm an toàn.
Sau một ngày bám trụ trên tuyến, căn hầm nửa chìm nửa nổi trở thành thiên đường. Các chiến sĩ Tiểu đội 1 nằm la liệt, ngủ say sưa đến mức không kịp tháo giày, chẳng buồn mắc màn. Trung đội trưởng Tấn ngồi lặng lẽ bên góc hầm, ánh đèn dầu hỏa tù mù hắt lên những gương mặt còn búng ra sữa. Nhìn họ ngủ ngon lành sau trận chiến sinh tử, anh thấy lồng ngực mình thắt lại vì một tình thương vừa như anh em, vừa như cha chú.
Mới lúc trước, khi chiếc xe chở đạn dính lửa, chính những gương mặt “vắt mũi chưa sạch” này đã lăn xả vào dập lửa, khuân những thùng đạn pháo nặng hơn cả thân hình mình chạy băng băng giữa làn đạn 12 ly 7 xối xả. Vậy mà vừa vào đến rừng, thấy con vắt bám vào chân là đã nhảy tâng tâng la hét như trẻ con. Tấn tựa lưng vào ba lô, định chợp mắt một lát nhưng chưa kịp mơ thì đồng chí liên lạc đã chạy vào hầm, báo lệnh đi ứng cứu gấp cho C447 tại Km64.
Tại hiện trường, một chiếc xe chở hàng trúng tên lửa rốc-két nằm nghiêng ngả. Lái xe đã được đưa đi cấp cứu, nhưng hố bom to tướng đã xé toạc mặt đường. Không đợi lệnh, người dọn mảnh vỡ xe cháy, người khuân đá hộc, người đổ đất… Mồ hôi tuôn ra như tắm, ướt đầm những chiếc áo xanh bạc màu. Trên cao, chiếc OV10 lượn lờ phát ra tiếng kêu “o… o” nhức óc, thỉnh thoảng vài chiếc F4 lại sà xuống thăm dò. Đến 21 giờ đêm, khi mặt đường đã phẳng lỳ dưới ánh pháo sáng từ xa, những cái bắt tay vội vã, đầy mồ hôi và bụi đá giữa chàng lái xe cùng những cô gái thanh niên xung phong mới kịp trao nhau. Một cái siết tay chặt thay cho ngàn lời hứa hẹn bình an.
Trở về đơn vị, anh em lăn ra ngủ ngay sau bữa tối đạm bạc. Tấn ngồi dựa thành giường, nắn nót ghi lại những dòng nhật ký. Đêm Trường Sơn chợt lắng xuống. Xa xa, tiếng động cơ xe bò lên dốc nghe rì rì như tiếng đất thở. Nhìn những gương mặt lấm lem bùn đất, Tấn khẽ thở dài: “Giá không có chiến tranh, giờ này chúng nó chắc đang ngồi trên ghế giảng đường đại học, hoặc là những người công nhân lành nghề nơi xí nghiệp nào đó…”
Dòng suy nghĩ của anh bị cắt ngang bởi một loạt bom rung chuyển. Tấn xỏ vội đôi giày, lao ra cửa hầm quan sát. Phía Ngã ba Dân Chủ, một cột khói đen đặc cuộn lên trong ánh chớp lửa. Trinh sát Nguyễn Văn Bảng hớt hải chạy về báo cáo:
- Tại Km53+800 đường 16A, máy bay giặc Mỹ vừa trút bom nổ chậm. Đường chưa hỏng nhưng quả bom nằm lù lù đầy đe dọa ngay vệ đường, tổ công binh đang khẩn trương tiếp cận để xử lý!
Đó đã là đêm thứ năm liên tiếp quân địch đánh phá không quy luật. Chúng lồng lộn như thú dữ bị thương, trút giận xuống mọi ngóc ngách của tuyến đường. Nhưng dù quân thù có hung bạo đến đâu, Ngã ba Dân Chủ dưới sự bảo vệ của trung đội Tấn vẫn vững vàng như một pháo đài thép.
Suốt một tháng ròng rã, trên toàn tuyến Đường 10 và Đường 16A, máy bay giặc Mỹ không lúc nào ngừng gầm rú. Nhưng những chàng trai, cô gái Thanh niên xung phong và bộ đội Công binh vẫn kiên cường bám trụ. Lời thề ngày ấy vẫn vang vọng giữa đại ngàn: “Sống bám cầu bám đường, chết kiên cường dũng cảm”.
Những chuyến hàng vẫn bền bỉ vào Nam, mạch máu giao thông chưa bao giờ ngừng chảy. Giữa mưa bom bão đạn, những người anh hùng không tuổi đã viết nên huyền thoại bằng máu và hoa, để những con đường hôm nay mãi mãi xanh màu hy vọng.
Bùi Văn Hoằng
[1] Văn bia tại nhà tưởng niệm ghi: “Nơi đây ngã ba Dân Chủ, đường Thống Nhất 16A phía tây Quảng Bình, bắc Quảng Trị thuộc hệ thống di tích đường Hồ Chí Minh. Đây là nơi đơn vị thanh niên xung phong chống Mỹ cứu nước tập trung N237, Ban 67 đã từng sống, chiến đấu, lao động và hy sinh anh dũng để bảo đảm mạch máu giao thông thông suốt từ ngày 14-4-1969 đến ngày 31-12-1972.









































































