VÙNG ĐẤT LỬA

Đăng lúc: 24-09-2026 10:57 Sáng - Đã xem: 23 lượt xem In bài viết

Hóa Hợp quê tôi nép mình trong một thung lũng chạy dài độc đáo. Phía đông là điệp trùng núi đất, phía tây sừng sững dải lèn đá vôi thuộc mạn sườn Trường Sơn hùng vĩ. Dòng suối nhỏ cắt dọc xã chính là thượng nguồn sông Gianh nổi tiếng, nhưng lại chảy từ nam ngược ra bắc, khiến người đời vẫn thường trêu gọi đây là miền “nước chảy ngược”.

Nơi đây từng cõng trên lưng huyết mạch giao thông Trường Sơn. Con đường mòn Hồ Chí Minh (15A) vắt qua thung lũng, chồng lên cả quốc lộ 12A từ Ba Đồn nối sang cửa khẩu Cha Lo. Vì lẽ đó, Hóa Hợp nghiễm nhiên trở thành trạm dừng chân, nơi tập kết vũ khí, đạn dược và trung chuyển sức người sức của vào miền Nam. Cũng vì thế, trong suốt những năm tháng chống Mỹ, mảnh đất này hứng chịu những trận mưa bom bão đạn tàn khốc nhất, mà tâm điểm ác liệt nhất phải kể đến khu vực Đội 1 Tân Sum (nay thuộc thôn Đa Năng, xã Kim Điền).

Ký ức tuổi thơ tôi bám đầy khói súng. Ba tôi là lính giao thông bám đường 15A từ những ngày đầu, biền biệt chiến trường mười bữa nửa tháng mới tạt qua nhà. Mẹ tôi, cô giáo trường làng, nương tựa ông bà ngoại trong nếp nhà tranh đồn trú ngay giữa “tọa độ lửa”. Ngày nhà trúng bom bốc cháy, cả gia đình dắt díu nhau tản cư sang bên kia con suối cạn, nấp dưới chân lèn đá. Thời ấy, hầm hào là nhà. Cứ nghe tiếng kẻng báo động cất lên xé tai, người già trẻ nhỏ lại lao vội vào hang sâu tăm tối.

Hòa bình lập lại, ba mẹ tôi cất lại nếp nhà gỗ trên chính nền tro tàn năm cũ. Ngay sau lưng nhà, bên bờ suối cạn, vẫn hằn in vết xe xích và tàn tích lán trại của bộ đội. Bốn bề là hố bom sâu hoắm. Năm tháng qua đi, cha con tôi kiên nhẫn bạt đất lấp từng hố bom để lấy chỗ gieo hạt, trồng rau. Những mảnh bom, xác xe tăng, xe tải, ống pháo han gỉ nằm rải rác khắp ngõ xóm dần dà cũng bị những người thu mua phế liệu cưa cắt mang đi. Nếu không, có lẽ một bảo tàng chiến tranh khổng lồ vẫn phơi mình trên mảnh đất này cho đến tận hôm nay.

Vùng đầu làng từ cồn Co Đo, Nhà Chu trải dài xuống Mụ Liềm thuở ấy hoang sơ và rờn rợn. Lũ trẻ chăn trâu chúng tôi thường chui rúc vào những lùm cây bẫy chim quốc, đôi khi liều lĩnh bới tìm thuốc súng trong các ống ca-tút vứt lại để đốt chơi, hay đẽo súng gỗ rồi gắn nòng bằng ống đồng nhặt từ xác xe cháy. Trong những buổi chiều nhạt nắng, chúng tôi thường truyền tai nhau giai thoại lạnh người về một trận chiến đất đối không bi tráng. Nhưng ngày đó, tâm hồn non nớt của những đứa trẻ chưa đủ sức chạm tới tận cùng nỗi đau thương của quê hương.

Lớn lên, mải miết mưu sinh xa xứ, nay khi mái đầu đã điểm bạc, tôi mới có dịp tản mạn cùng những bậc cao niên trong làng để ghép lại những mảnh vỡ của lịch sử. Bên chén trà xanh bốc khói, cậu Cao Hữu Nghĩa, một cựu lính pháo binh 75 tuổi, trầm ngâm nhớ lại: “Năm 1968, một đại đội pháo binh phòng không chuyển đến đây lập trận địa. Biên chế từ 40 đến 60 người, vài khẩu pháo tầm cao, chưa kể pháo tầm thấp và xe tiếp đạn. Thế mà, chỉ sau một trận không kích, cả đại đội gần như bị xóa sổ. Người hy sinh nhiều không kể xiết…”.

Bác Đinh Văn Liên đang hồi tưởng về những năm tháng chiến tranh khốc liệt.

Lần theo ký ức của những người đi trước, tôi điện đàm cho bác Đinh Văn Liên, 90 tuổi, nguyên Phó ban Tuyên giáo Huyện ủy, cựu Xã đội trưởng dân quân. Trong cuốn sổ tay ố vàng của bác, dòng chữ ghi ngày 13/3/1968 vẫn rành rọt. “Từ 8 giờ sáng đến 5 giờ chiều, 12 chiếc máy bay thay nhau quần thảo. Bầu trời nứt toác. Thiệt hại nhiều và đau thương lắm cháu à!” giọng bác nghẹn lại ở đầu dây bên kia.

Chân thực và khốc liệt nhất có lẽ là ký ức của bác Đinh Viết Lại, người từng làm Tiểu đội trưởng dân quân năm xưa. Trận địa vừa được thiết lập, 4 khẩu 85 ly mới kịp đưa vào ụ, đạn dược mới được đúng một hòm thì máy bay trinh sát lướt qua. Pháo ta vút lên hai loạt đạn. Phút chốc, bầy quạ sắt kéo đến rợp trời. Chúng bay sạt ngọn cây khiến pháo 85 ly vốn bắn tầm cao trở nên bất lực, trong khi pháo tầm thấp từ Lâm Sum chưa kịp tới. Bom đạn trút xuống như thác lũ. Mặt đất rung bần bật, xới tung tơi bời, khói bụi mù mịt che khuất cả ánh mặt trời.

Địch ném bom chính xác đến mức tàn nhẫn, dường như mọi ụ pháo, trạm quan trắc, hầm thông tin đều đã bị đánh dấu sẵn. Máu thịt các anh hùng hòa vào đất đá, vương trên những cành cây tướp táp, nhuộm đỏ cả dòng suối cạn. Những thi thể không còn nguyên vẹn được đồng đội lặng lẽ gom nhặt trong đêm để đưa đi. Hàng chục con người đã vĩnh viễn nằm lại, danh tính bị vùi lấp dưới lớp bụi mờ của bí mật quân sự. Kẻ nội gián chỉ điểm bằng điện đài tinh vi đã bị bắt ngay đêm ấy khi đang tìm cách xóa dấu vết trong hang đá, nhưng sự phản bội bỉ ổi đó đã phải đánh đổi bằng sinh mạng của cả một đại đội kiên trung.

“Những hố bom chi chít quanh nhà cháu, chính là dấu tích của ngày hôm đó,” bác Lại thở dài. “Bom rốc-két rải thảm dọc xóm làng. May mà dân thưa thớt, lại tản cư hết vào lèn đá nên không ai bỏ mạng. Nhưng trên đất Hóa Hợp này, không đâu ác liệt bằng nơi đây”. Ngay cả trận B52 rải thảm tàn khốc ở Lâm Sum tháng 8 năm 1972, cướp đi sinh mạng của 8 thanh niên xung phong và 5 người dân thường, cũng không thê thảm bằng ngày rực lửa đó.

Tân Sum kiên cường đã tiếp lửa cho miền Nam ruột thịt, góp phần dệt nên đại thắng mùa Xuân 1975. Nhưng khi khói sương chiến tranh đã tan, chẳng lẽ thời gian sẽ nhấn chìm tất cả vào quên lãng? Đôi mắt rơm rớm của bác Lại lúc tiễn tôi ra ngõ cứ ám ảnh mãi: “Phải làm gì đó cháu à! Ít ra là một nhà bia tưởng niệm. Chỗ cây mít ngày xưa từng có tấm biển ‘Tổ quốc ghi công’, nhưng gió mưa làm mục nát mất rồi”.

Lòng tôi khấp khởi vui mừng khi nghe tin chính quyền xã mới Kim Điền đang có chủ trương di dời nhà bia liệt sĩ từ phía sau trụ sở về cồn Co Đo – vị trí của trận địa pháo đẫm máu năm xưa. Không chỉ là một thế đất cao ráo soi bóng xuống đường Hồ Chí Minh, đây còn là nơi chứng kiến bộ đội địa phương bắn hạ chiếc máy bay thứ 3.000 của giặc Mỹ, từng được Bác Hồ gửi thư khen ngợi. Nhà bia mới sẽ là nốt lặng thiêng liêng để hương hồn các liệt sĩ, dù là người bản xứ hay những người lính tứ xứ hy sinh trên đất này, được quần tụ và chở che trong vòng tay của quê hương.

Nhớ lại lời dặn của cố Trung tướng Đồng Sỹ Nguyên vào năm 2009, rằng dọc tuyến đường Trường Sơn cần được tôn tạo thành những bảo tàng chứng tích sống động. Nhà bia Co Đo, nghĩa trang C892, căn cứ vua Hàm Nghi – tất cả sẽ cùng nhau dệt nên một quần thể du lịch tâm linh, văn hóa và lịch sử. Đó không chỉ là đòn bẩy để phát triển kinh tế địa phương, mà quan trọng hơn cả, là lời nhắc nhở thế hệ mai sau về một “Vùng đất lửa” đã từng cháy rực rỡ để bảo vệ trọn vẹn dáng hình Tổ quốc.

Hóa Hợp, ngày 12/9/2026

Nguyễn Cảnh Tuấn