Mùa xuân năm 1975, đất nước hòa bài ca khải hoàn rực rỡ, non sông chính thức liền một dải từ mũi Cà Mau đến địa đầu Móng Cái. Thế nhưng, đằng sau những nụ cười rạng rỡ của ngày chiến thắng là một thực tại đầy rẫy cam go đang chờ đón phía trước. Những vết thương chiến tranh qua mấy mươi năm chưa kịp lên da non, nền kinh tế kiệt quệ sau bao năm dồn sức cho tiền tuyến, và đặc biệt là ở nơi biên viễn Tây Nam, bóng ma phản động Pol Pot cùng các tổ chức FULRO vẫn lăm le quấy phá, đe dọa sự bình yên vừa mới nhen nhóm.
Giữa bối cảnh lịch sử đầy biến động ấy, Hà Nội nhận lãnh một sứ mệnh thiêng liêng: Đưa những người con ưu tú của Thủ đô vào khai phá những vùng đất chết, xây dựng vùng kinh tế mới tại Lâm Đồng và Sông Bé. Tiếng gọi của Tổ quốc vang lên như một luồng điện, chạm mạnh vào trái tim của lớp lớp đoàn viên, thanh niên đang căng tràn nhựa sống. Họ tạm biệt những giảng đường đại học, rời xa phố cũ rêu phong với những gốc sấu, hàng me và những ngôi làng yên ả ven hồ Tây để dấn thân vào một cuộc hành trình chưa từng có trong tiền lệ – hành trình của những người đi mở đất, dựng xây tương lai từ bàn tay trắng.
Hàng vạn chàng trai, cô gái tuổi mười tám, đôi mươi mang theo nhiệt huyết “Ba sẵn sàng” hăng hái lên đường. Trong ánh mắt họ, đôi khi vẫn còn sót lại nét bỡ ngỡ, thư sinh của những trí thức trẻ Thủ đô vừa rời ghế nhà trường, nhưng trong lồng ngực là ý chí sắt đá được kế thừa từ thế hệ cha anh từng “xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước”. Họ chính thức trở thành lực lượng Thanh niên tiền trạm, mang trên vai nhiệm vụ “khai sơn phá thạch”, dọn đường cho cuộc di dân vĩ đại nhất của miền Bắc vào phương Nam trong những năm cuối thập niên 70.
Khi đặt chân xuống đại ngàn Lâm Đồng, Sông Bé, thực tế hiện ra khắc nghiệt và tàn khốc hơn mọi lời mường tượng hay những dòng chữ trong sách vở. Không có khung cảnh mộng mơ hay tiếng chim hót thanh bình, trước mắt họ chỉ là rừng thiêng nước độc, thú dữ rình rập trong bóng tối và vô vàn bom mìn còn ngủ yên dưới lớp lá mục chờ chực phát nổ. Từng đêm, tiếng súng quấy phá của bọn phản động FULRO vẫn nổ ran ngoài rìa lán trại, khiến giấc ngủ của những người trẻ chẳng bao giờ được trọn vẹn. Thế nhưng, khí chất người Hà Nội không biết đến hai chữ “sợ hãi”. Họ ăn cơm vắt, uống nước suối ngầu đỏ phù sa, dồn sức vào từng nhát cuốc phá đá, từng đường cày xới đất với một niềm tin cháy bóng: Nơi đây nhất định sẽ trở thành quê hương thứ hai trù phú và yên bình.
Chỉ trong vỏn vẹn ba năm (1976 – 1979), bằng sức mạnh của những cánh tay trẻ, gần một vạn thanh niên Thủ đô đã tạo nên những kỳ tích phi thường mà lịch sử không thể lãng quên:
Họ đã khai hoang hơn 200 ha đất đỏ bazan, biến những cánh rừng rậm rạp hoang vu thành những nương sắn, nương ngô xanh mướt và hơn 20 ha lúa nước trĩu hạt. Khi 4.300 tấn lương thực đầu tiên được thu hoạch vào năm 1978, đó không chỉ là những con số thống kê, mà là “tín hiệu xanh” hạnh phúc báo về Hà Nội, minh chứng cho sức mạnh áp đảo của ý chí con người trước thiên nhiên dữ dội. Họ bạt núi mở hơn 371 km đường giao thông, bắc 37 nhịp cầu nối những bờ vui và dựng lên hơn 21.000 mái nhà tranh tre đơn sơ nhưng ấm áp – nơi sẽ đón hàng vạn hộ dân từ Thủ đô vào lập nghiệp lâu dài.
Mỗi con đường mới mở ra là một bước tiến của văn minh vào sâu trong lòng đại ngàn; mỗi mái nhà dựng lên là một mầm hy vọng mới cho những gia đình sắp sửa rời xa quê cũ để đi theo tiếng gọi mở đất. Thế nhưng, hành trình vĩ đại ấy không chỉ được dệt bằng mồ hôi và công sức. Nó được viết bằng cả máu và nước mắt, bằng sự hy sinh thầm lặng của một thế hệ thanh niên vàng.
Đã có biết bao người đội viên đã nằm lại vĩnh viễn giữa rừng sâu khi tuổi đời còn chưa kịp nếm trải những khát vọng tuổi trẻ. Họ ngã xuống khi đang rà phá bom mìn, khi trực tiếp cầm súng chiến đấu chống bọn phản động FULRO để bảo vệ thành quả lao động, hay kiệt sức bởi những cơn sốt rét ác tính run người giữa đêm rừng lạnh lẽo. Chỉ riêng tại vùng biên giới Bù Gia Mập (Bình Phước), gần 100 cán bộ, đội viên đã hy sinh, mãi mãi không thể trở về nhìn lại phố phường Hà Nội. Những mất mát ấy được đánh đổi để giữ yên biên giới Tây Nam, bảo vệ vùng đất mới trong buổi đầu dựng xây. Họ – những người lính không quân phục, những chiến sĩ không danh xưng quân hàm – chính là những người đứng ở tuyến đầu của hòa bình, để người dân Thủ đô yên tâm vào lập nghiệp.
Không chỉ là lực lượng sản xuất, thanh niên tiền trạm còn là lá chắn an ninh vững chãi. Hơn 30 trung đội đã phối hợp cùng quân dân địa phương truy quét tàn quân phản động, giữ vững trật tự vùng biên cương. Và rồi, từ lòng rừng âm u ngày nào, ánh sáng của cuộc sống mới đã dần bừng lên rạng rỡ. Nhiều người sau khi hoàn thành nhiệm vụ đã chọn ở lại, lập gia đình, góp phần biến vùng đất hoang thành miền kinh tế phồn vinh – nay là huyện Lâm Hà (Lâm Đồng) hay nhiều vùng phát triển năng động của tỉnh Bình Phước. Từ “Ngọn gió mở đường” ấy, một cộng đồng mới mang đậm dấu ấn Thủ đô đã hình thành nơi đất khách, trực tiếp biến rừng thiêng nước độc thành vùng kinh tế giàu tiềm năng, tạo cơ sở cho hàng chục vạn dân vào Nam định cư, phát triển kinh tế – xã hội.
Trong môi trường khắc nghiệt ấy, họ đã trưởng thành nhanh chóng. Bước ra từ “Trường học lớn của tuổi trẻ”, nhiều người đã tiếp tục học tập và công tác xuất sắc trên mọi lĩnh vực. Có người trở thành cán bộ chủ chốt của Đảng, giữ chức Ủy viên Thường vụ Huyện ủy, Chủ nhiệm Ủy ban Kiểm tra tại huyện Lạc Dương (Lâm Đồng); có người tiếp tục cống hiến trong ngành An ninh, trở thành sĩ quan cao cấp của Bộ Công an. Dù ở vị trí nào, họ vẫn mang theo niềm tự hào của người thanh niên tiền trạm năm xưa.
Năm 2016, UBND TP. Hà Nội đã chính thức ban hành quyết định công nhận phiên hiệu Thanh niên xung phong cho lực lượng tiền trạm Lâm Đồng – Sông Bé. Đó là sự ghi nhận muộn màng nhưng vô cùng ý nghĩa đối với những “người mở đường” thầm lặng. Họ được đứng vào hàng ngũ Hội Cựu TNXP Thủ đô, tiếp tục phát huy truyền thống anh hùng, tích cực tham gia các phong trào thi đua yêu nước, góp phần xây dựng quê hương ngày càng giàu đẹp.
Tuy nhiên, khi nhìn vào những vết thương vẫn còn nhức nhối trên cơ thể người lính trở về, chúng ta không khỏi trăn trở. Tri ân không chỉ dừng lại ở lời ca tiếng hát. Tri ân thực sự phải được hiện thực hóa bằng những chính sách đãi ngộ thấu tình đạt lý, công bằng và tôn trọng đúng lịch sử.
Chúng tôi tha thiết mong muốn các cấp, các ngành sớm giải quyết chế độ chính sách đối với thanh niên tiền trạm đi xây dựng vùng kinh tế mới Lâm Đồng – Sông Bé sao cho công bằng, hợp lý, đúng chính sách và đúng lịch sử phong trào hành động cách mạng của tuổi trẻ Thủ đô sau ngày giải phóng 30/4/1975. Những người đã hiến dâng cả tuổi thanh xuân cho Tổ quốc tại nơi rừng thiêng nước độc xứng đáng nhận được sự chăm lo chu đáo và sự ghi nhận xứng đáng từ xã hội.

Tác giả trình bày tham luận tại Lễ kỷ niệm 50 năm ngày Truyền thống Đơn vị TNXP Lâm Đồng – Sông Bé (06/4/1946 – 06/4/1979) ngày 04/4/2026 tại xã Hát Môn, Hà Nội.
Khúc trường ca tuổi trẻ ấy vẫn đang vang vọng. Những thế hệ mai sau hãy nhớ rằng dưới mỗi bước chân ta hôm nay là mồ hôi, nước mắt và cả máu của một lớp người đã đặt nền móng bằng tinh thần dấn thân vô điều kiện. Họ chính là niềm tự hào của Hà Nội – những người viết nên khúc trường ca bất diệt của thanh niên Thủ đô trong thời đại mới.
Đặng Văn Tỵ
Phó Ban liên lạc Đội TNXP tiền trạm 76 – 79 Lâm Đồng và Sông Bé









































































