KÝ ỨC KHÔNG BAO GIỜ QUÊN

Đăng lúc: 18-09-2026 11:24 Sáng - Đã xem: 15 lượt xem In bài viết

Nửa thế kỷ đã trôi qua kể từ ngày non sông thu về một mối, nhưng với một cựu TNXP như tôi, âm dương cách biệt chưa bao giờ xóa nhòa được ký ức về những tháng năm máu lửa. Mỗi lần nhắc đến chiến tranh, tim tôi lại thắt nghẹn khi nhớ về người bạn chí cốt, liệt sĩ Đinh Văn Kiến, quằn quại giữa ngọn lửa bom lân tinh tàn khốc mà vẫn dõng dạc để lại những lời trăng trối cuối cùng. Tôi vốn quen cầm súng chiến đấu, quen với cuốc xẻng mở đường, nét bút có thể còn thô vụng. Nhưng trong không khí hào hùng của những ngày tháng Tư lịch sử, tôi quyết định viết lại câu chuyện này. Sự thật về sự hy sinh anh dũng của thế hệ cha anh, dù được kể bằng những lời mộc mạc nhất, vẫn luôn tráng lệ và quý giá hơn vạn ngôn từ hoa mỹ.

Tôi và Kiến cùng sinh ra ở xã Yên Hóa, huyện Minh Hóa, tỉnh Quảng Bình. Hai đứa gắn bó với nhau từ thuở để chỏm, cùng đi học, cùng ra đồng. Năm 1965, ở tuổi hai mươi căng tràn nhiệt huyết, chúng tôi tình nguyện gia nhập lực lượng TNXP, lên đường chống Mỹ. Đêm hành quân đầu tiên, chúng tôi mải miết luồn rừng, lội suối, mặc cho sên vắt bám đầy chân, muỗi rừng vây kín mặt để đến vị trí đóng quân: Trọng điểm La Trọng trên tuyến đường 12A lịch sử. Con đường độc đạo vượt dãy Trường Sơn này là yết hầu giao thông, nên địch điên cuồng dội bom nhằm cắt đứt tuyến chi viện huyết mạch. Có những ngày, hàng ngàn lượt máy bay gầm rú cày xới nát mặt đường. Nhưng mặc cho khói lửa ngút trời, cứ ngầm hỏng, đường tắc, những người lính TNXP lại lao ra san lấp hố bom. Ròng rã mấy tháng trời, địch cậy nhiều bom đạn, chúng tôi thi gan bằng tuổi trẻ và lòng quả cảm.

Đến tháng 10 năm 1965, chấp hành lệnh của Binh trạm 12 và Ban 67, Đại đội 735 chúng tôi được điều động về ngã ba sông Son để xây dựng bến phà Nguyễn Văn Trỗi (còn gọi là bến phà B). Nằm cách động Phong Nha chừng năm trăm mét, bến phà cùng với phà Xuân Sơn gánh nhiệm vụ đưa người và xe qua sông, chi viện cho chiến trường miền Nam. Trở thành “túi bom” của không quân Mỹ, xóm Trầm chìm trong lửa đạn, nhân dân buộc phải sơ tán. Bốn trung đội của chúng tôi lùi vào trú ẩn trong các hang đá quanh động Phong Nha — nơi cất giấu ca nô, cầu phao và khí tài. Khẩu hiệu “Hang động là nhà, bến phà là trận địa” trở thành mệnh lệnh từ trái tim. Cứ chiều chạng vạng, phà và ca nô lại rời hang làm nhiệm vụ, đến rạng sáng lại bí mật rút về. Càng thua đau ở miền Nam, địch càng trút đạn khốc liệt. Từ bom từ trường, bom napan, thủy lôi thả xuống dòng sông Son đến những trận mưa rốc két nã thẳng vào cửa động, chúng hòng chôn vùi mọi sự sống.

Bất chấp hiểm nguy, ý chí chiến đấu của chúng tôi chưa từng lay chuyển: “Địch cứ phá, ta cứ đi / Đường chờ xe, không để xe chờ đường”. Thế nhưng, chiến tranh luôn có những ngã rẽ tàn khốc. Khoảng 10 giờ đêm tháng 6 năm 1966, trung đội tôi đi làm về. Nhiều người đã vào sâu trong hang, số khác nán lại cửa hít thở chút không khí mát lành của núi rừng. Vài tiếng hát cất lên, rồi hòa thành một bản đồng ca, tiếng cười đùa rôm rả xua đi mệt nhọc. Đột nhiên, một tiếng “bụp” khô khốc vang lên. Không rung chuyển ầm ĩ như bom tấn, chẳng đanh gọn như bom bi. Đó là tiếng nổ oan nghiệt của loại bom lân tinh. Ngay sau âm thanh ấy, không gian bỗng im bặt đến rợn người, tĩnh mịch đến mức có thể nghe được tiếng vách đá thở dài. Linh tính mách bảo chuyện chẳng lành, tôi — khi ấy là Trung đội trưởng — hét lớn: “Các đồng chí, ra xem!”.

Vừa lao ra cửa hang, một cảnh tượng kinh hoàng đập vào mắt chúng tôi. Một cột lửa cháy rực, to bằng gian nhà bùng lên chói lòa. Giữa địa ngục ấy, Kiến đang chạy vòng quanh, tuyệt vọng tìm lối thoát. Xung quanh ngọn lửa, đồng đội tôi người ngã gục, người quằn quại kêu la. Thấy tôi, Kiến gào lên thảm thiết:

– Quý ơi, cứu tao với!

– Anh em, lấy cuốc xẻng xúc đất dập lửa ngay! – Tôi khản giọng ra lệnh.

Mọi người lao vào cứu bạn, nhưng nghiệt ngã thay, nền đất trước hang toàn đá sỏi, cuốc bổ xuống chỉ tóe lửa keng keng, mỗi nhát xẻng chỉ hớt được một nhúm đất nhỏ nhoi. Hơi nóng hầm hập táp vào mặt, khét lẹt. Tôi nghẹn ngào hối thúc: “Nhanh tay lên anh em ơi!”.

Giữa ngọn lửa đang bám chặt, thiêu đốt da thịt, giọng Kiến bỗng vang lên sang sảng, mạch lạc đến kỳ lạ:

– Quý ơi, tao chết mất! Nhờ mi về nói với bố mẹ tao… động viên bố mẹ tao với nhé!

Tôi điên cuồng xúc đất, nước mắt giàn giụa, gào lại:

– Nhớ rồi! Nhớ rồi!

Lửa vẫn bừng bừng hung hãn. Kiến lảo đảo chạy vấp váp nhưng vẫn cố cất tiếng, từng lời như cứa nát ruột gan:

– Quý ơi, cho tao gửi lời thăm con Đăng, người yêu tao! Mi nói với hắn đừng buồn khi tao chết nhé… (Đăng là cô gái cùng quê, đi TNXP cùng đại đội nhưng ở trung đội khác).

Từ trong ngọn lửa tàn nhẫn, dồn chút hơi tàn cuối cùng, Kiến nói vọng ra:

– Quý ơi, tao gửi lời chào Đại đội… Đại đội hãy chiến đấu trả thù cho tao!

Vừa dứt lời, người lính kiên cường ấy ngã gục xuống. Khi đống lửa vừa được dập tắt, tôi gạt nước mắt ra lệnh lấy võng. Nhưng lúc chạm vào để nâng cậu ấy lên, toàn bộ quần áo và da thịt đã cháy rộp, dính chặt vào tay chúng tôi. Đau đớn khôn tả. Tôi cắn răng bảo anh em lấy hai chiếc chăn, trải một chiếc xuống dưới, trùm một chiếc lên trên, cẩn thận cuộn Kiến lại rồi mới đưa lên võng.

Đêm đen đặc quánh. Quãng đường nửa cây số khiêng thương binh từ cửa động ra quốc lộ dài dằng dặc. Đứng vẫy gọi bên đường, chúng tôi chực chờ một phép màu. Trên tuyến Trường Sơn lúc bấy giờ, lệnh cấp trên rất nghiêm: “Thấy thương binh hay đồng đội vẫy, xe phải dừng lại đón”. Khoảng 20 phút sau, một chiếc xe quân sự lao tới, tức tốc hướng về bệnh viện của Đoàn 559 ở Khương Hà. Nhưng chặng đường 20 cây số ấy là một cuộc chiến giằng co với tử thần. Xe vừa lăn bánh lại bị máy bay địch quần thảo. Tài xế cứ chạy được một đoạn lại phải tắt máy, tấp vào lề nhường đường cho bom rơi. Chiếc xe nhích đi trong tiếng gầm gào của súng đạn và tiếng thở thoi thóp của đồng đội. Mãi đến hơn bốn giờ sáng, xe mới tới nơi. Dù các y bác sĩ đã tận tình cứu chữa, nhưng vết bỏng lân tinh quá sâu đã cướp đi sự sống của Kiến vào trưa ngày hôm sau.

Kiến ơi, mỗi lần nhớ lại đêm tháng 6 năm ấy, Quý và những người đồng đội có mặt vẫn không kìm được nước mắt. Không ai có thể lý giải được vì sao giữa đống lửa lân tinh thiêu đốt tận xương tủy, Kiến vẫn giữ được sự bình tĩnh phi thường, cất lên những lời dặn dò gan ruột đến thế. Kiến hãy yên nghỉ nhé. Lời dặn của Kiến, Quý và mọi người đều đã làm tròn. Sự hy sinh của Kiến và bao lớp thanh niên ngày ấy đã đổi lấy thắng lợi vẻ vang, buộc đế quốc Mỹ rút quân, thu non sông về một mối.

Hôm nay, đôi bờ Nam Bắc sông Son không còn hố bom, chỉ còn những bãi ngô, cánh đồng lúa xanh mướt bạt ngàn. Động Phong Nha tuyệt mỹ đã trở thành điểm du lịch nổi tiếng của du khách thập phương. Bến phà Xuân Sơn xưa nay là Di tích lịch sử cấp Quốc gia, nơi Đài tưởng niệm (ảnh trên) sừng sững ghi công những người con đã dâng hiến tuổi thanh xuân cho Tổ quốc. Hiện nay, Quý sinh sống tại thành phố Đà Nẵng, nhưng mỗi lần về quê, Quý đều ghé lại bến phà xưa, thắp nén nhang trầm. Qua làn khói mỏng manh, Quý lại thấy ngọn lửa năm nào rực cháy, và trong ngọn lửa ấy, nụ cười tuổi hai mươi của Kiến vĩnh viễn không bao giờ tắt.

 

Đà Nẵng, ngày 02 tháng 5 năm 2025

Đinh Quang Quý