SỨC MẠNH 4 CÂU THƠ CỦA BÁC TRUYỀN LỬA CHO TNXP VIỆT NAM TRONG CUỘC KHÁNG CHIẾN CHỐNG MỸ CỨU NƯỚC

Đăng lúc: 01-04-2026 10:29 Sáng - Đã xem: 32 lượt xem In bài viết

Ban biên tập trân trọng giới thiệu phát biểu của đồng chí Ngô Văn Tuyến, Trưởng ban Tổ chức – Kiểm tra và Tuyên truyền Trung ương Hội Cựu TNXP Việt Nam tại toạ đàm “Mãi khắc ghi lời Bác dạy” tổ chức ở Thái Nguyên ngày 27/3/2026.

Kính thưa các đồng chí lãnh đạo,
Kính thưa các đồng chí, đồng đội,
Thưa toàn thể quý vị đại biểu!

Ngày 28/31951, trên đường đi kiểm tra công tác đảm bảo giao thông phục vụ chiến khu Việt Bắc, Bác Hồ đã đến thăm Liên phân đội 312 đang làm nhiệm vụ tại cầu Nà Cù, thôn Nà Tu, xã Cẩm Giàng, huyện Bạch Thông, tỉnh Bắc Kạn. Khi Bác đến, cả đơn vị sung sướng reo lên “Bác Hồ! Bác Hồ! Bác Hồ đến thăm! Đầu tiên Bác tươi cười, ân cần thăm hỏi tình hình đơn vị, đời sống, việc làm, Bác hỏi: “Đào núi có khó không? Rồi Bác nói chuyện thân mật với cán bộ, đội viên, căn dặn và tặng TNXP bốn câu thơ:

“Không có việc gì khó

 Chỉ sợ lòng không bền

 Đào núi và lấp biển

 Quyết chí ắt làm nên

          Theo lời dặn của Bác, đồng chí Dương Thiết Sơn, Bí thư Tỉnh ủy Bắc Kạn, là người đưa Bác đến thăm TNXP, đã chuyển 4 câu thơ của Bác cho Ban Thường vụ Trung ương Đoàn Thanh niên Cứu quốc Việt Nam để làm phương châm hành động cho đoàn viên Thanh niên.

          Bác đã hiểu rõ sức mạnh “Dời non, lấp biển” của Thanh niên, sức mạnh ấy như điển tích “Ngu Công dời núi”.

          Bốn câu thơ của Bác là lời giáo huấn, sự ghi nhận, gửi gắm niềm tin và tình cảm sâu sắc của Đảng, của Bác dành TNXP Việt Nam và thế hệ trẻ cả nước trước vận mệnh thiêng liêng của Tổ quốc, là tư tưởng chỉ đạo hành động, nhằm rèn luyện ý chí, tinh thần, nghị lực cho TNXP và các thế hệ thanh niên Việt Nam. Ngay sau đó thơ của Bác đã thấm nhuần với hàng vạn TNXP thời kỳ kháng chiến chống Pháp, để kề vai sát cánh cùng các lực lượng vũ trang có mặt, bền chí trên các tuyến đường chiến lược, các trọng điểm ác liệt của chiến tranh, giáp mặt với quân thù, với tinh thần quên mình phục vụ, không ngại hy sinh gian khổ, trường kỳ phục vụ công cuộc kháng chiến chống Pháp cho đến thắng lợi hoàn toàn của chiến dịch Điện Biên Phủ ngày 7/5/1954.

          Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, nghe theo tiếng gọi của Đảng, của Đoàn, thực hiện Chỉ thị 71/TTg-CN, ngày 21/6/1965 của Chính phủ. Thanh niên miền Bắc đã có phong trào 3 sẵn sàng: “Sẵn sàng chiến đấu; sẵn sàng khắc phục khó khăn, đẩy mạnh sản xuất; sẵn sàng đi bất cứ nơi nào, làm bất cứ việc gì mà Đảng và nhân dân yêu cầu”.

        Phong trào bắt đầu từ Hà Nội, lan dần các tỉnh toàn miền Bắc. Chỉ trong thời gian ngắn, chúng ta đã thành lập được 3 Tổng đội, 170 Đội và 50 Đại đội TNXP tập trung thực hiện nhiệm vụ “Xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước”, “Tất cả để đánh thắng giặc Mỹ xâm lược”. Tính từ 1965 đến 1975 đã có 28 tỉnh, thành phố và các địa phương huy động 271.000 cán bộ, chiến sĩ TNXP trên khắp các chiến trường miền Bắc để phục vụ chiến đấu, tham gia chiến đấu, tháo gỡ bom mìn, cảng tải thương binh tử sĩ, vận chuyển vũ khí, đạn dược, hậu cần. Đặc biệt là mở đường chiến lược, đảm bảo giao thông, phục vụ cho việc vận tải hậu cần cho chiến trường miền Nam, đánh thắng chiến tranh ngăn chặn của Đế quốc Mỹ.

        Trên Trường Sơn có 22 vạn cán bộ, chiến sĩ TNXP của Ban xây dựng 67 Bộ GTVT và Đoàn 559 Bộ đội Trường Sơn của Bộ Quốc phòng thực hiện mở đường chiến lược, cơ giới phục vụ cho chiến dịch vận tải, phục vụ chiến trường miền Nam, dẫn đến thắng lợi hoàn toàn mùa xuân 1975[1]. Ở Trường Sơn, chúng ta đã huy động TNXP làm nhiệm vụ ở tất cả 5 tuyến trục dọc, 21 tuyến trục ngang, điển hình là các tuyến 12, 15A, 15B, Đường 10, Đường 16, Đường 20 Quyết Thắng, Đông Trường Sơn, Tây Trường Sơn. Các trọng điểm như Đồng Lộc, Khe Ve, Bãi Dinh, Cổng Trời – Mụ Dạ, 050, Đèo Đá Đẽo, phà Xuân Sơn, Quán Hầu, Long Đại và hàng trăm trọng điểm khác. Đường 20 có các trọng điểm cua chữ A, Ngầm Ta Lê, đèo Phu La Nhích, địch đã dùng B52 rải thảm 969 trận, 2.000 trận máy bay ném bom tiêm kích với 300.000 quả bom nhưng vẫn không khuất phục được chúng ta. Những đơn vị thọc sâu như K53, tiểu đoàn TNXP 303 Hà Tây đều đã hoàn thành nhiệm vụ xuất sắc.

        Trong 10 năm, TNXP chống Mỹ cứu nước miền Bắc đã mở 102 con đường chiến lược với tổng chiều dài 4.130km, vận chuyển trên 10 vạn tấn vũ khí, đạn dược, lương thực thực phẩm; Trực chiến và chốt giữ trên 3.000 trọng điểm chiến lược giao thông quan trọng, địch thường xuyên đánh phá ác liệt san lấp hàng chục vạn hố bom, phá gỡ trên 10.000 quả bom các loại, bắn rơi 15 máy bay Mỹ, bắt sống 13 phi công Mỹ và gần 1.000 tên địch, phá hỏng 20 xe tăng, xe bọc thép, phục vụ gần 1.000 trận đánh, bổ sung cho quân đội 16.000 người, 15.000 người được kết nạp vào Đảng, có 52 dũng sĩ diệt Mỹ và 1.432 dũng sĩ quyết thắng trên các chiến trường.

        Đơn vị TNXP C892 của tôi, năm 1972 trực thuộc Tiểu đoàn D152, Binh trạm 15 Sư 571 đã chốt trực hàng chục trọng điểm từ Khe Ve đến đèo Đá Đẽo (Đường 15) và từ Bãi Dinh đến 050 Đường 12 qua trọng điểm Cổng trời đèo Mụ Dạ cửa khẩu Cha Lo sang Lào. Quyết tâm giữ vững mạch máu giao thông để vận chuyển hậu cần qua Lào, phục vụ cho chiến trường miền Nam, đến thắng lợi 30/4/1975.

        Cùng với phong trào 3 sẵn sàng ở miền Bắc, ở miền Nam ngày 26/3/1965 Đoàn Thanh niên Nhân dân cách mạng miền Nam đã tổ chức Đại hội và phát động phong trào 5 xung phong: “Xung phong diệt nhiều sinh lực địch; xung phong tòng quân diệt giặc; xung phong đi dân công và TNXP phục vụ tiền tuyến; xung phong đấu tranh chính trị chống bắt lính; xung phong lao động sản xuất nông nghiệp trong nông hội”. Tháng 4/1965 Thường vụ Trung ương Đoàn đã quyết định thành lập Tổng đội TNXP miền Nam để phục vụ chiến trường. Ngày 20/4/1965, Đội TNXP giải phóng đầu tiên C100 ra đời tại Bầu Bàng Tây Ninh với 108 đồng chí tại Trung ương Cục. Sau đó hàng loạt các đơn vị TNXP các tỉnh miền Đông Nam Bộ và Đồng bằng Sông Cửu Long đã ra đời. Đội 198 Thành Đồng (19/8/1965), Đội 2311 Hoàng Lê Kha, Đội 112 Phú Lợi – Bình Dương, Đội 2012 Nguyễn Văn Tư- Bến Tre, Đội 32 Tây Đô quyết thắng- Cần Thơ, Đội 29 Hiệp Hòa anh dũng – Long An, Đội 2163 Ấp Bắc- Mỹ Tho, Đội 1265-Bình Giã chiến thắng Bà Rịa -Vũng Tàu. Khi quy mô chiến tranh ngày càng ác liệt từ 1966-1968, Tổng đội TNXP miền Nam đã thành lập 3 Liên đội 5,7,9 phối thuộc, phục vụ các sư đoàn chủ lực: Sư đoàn 5, Sư đoàn 7, Sư đoàn 9, đánh địch khu vực miền Đông và vùng ven đô Sài Gòn. Đến năm 1967 đã có 35.000 TNXP tham gia với nhiều hình thức từ TNXP cơ sở đến tập trung làm nhiệm vụ ở các chiến trường. Trong đó có mở rộng hành lang Campuchia- Cà Mau thành TNXP đường 1C lừng lẫy. 10 năm TNXP miền Nam đã làm nhiệm vụ vận chuyển vũ khí, cáng tải thương, chăm sóc bảo vệ thương binh, làm đường, bắc cầu, đào hầm, xây kho, phục vụ cán bộ chiến sỹ, chiến đấu bảo vệ chiến trường, góp phần diệt nhiều sinh lực địch, xây dựng nên truyền thống “phục vụ quên mình, anh dũng xung phong, lập công vẻ vang”.

          Ở mặt trận miền Trung: Tháng 3/1965 Khu ủy Khu V quyết định thành lập Hội đồng cung cấp tiền phương, lực lượng TNXP do Ban giao vận quản lý và chỉ đạo. TNXP làm nhiệm vụ đã lăn lộn trước mưa bom bão đạn, trước sức tấn công của quân thù, không sợ gian khổ hy sinh, nghe theo lời Bác dạy, nêu cao chủ nghĩa anh hùng cách mạng, dũng cảm mở đường, bám sát các trọng điểm, bảo vệ cầu phà, vừa vận chuyển vũ khí, vừa tiếp tế lương thực. thực phẩm, tải thương, đảm bảo mạch máu giao thông, tổ chức các hành lang đường bộ, đường thủy, ngược xuôi các dòng sông, nối liền đồng bằng ven biển với vùng núi xa xôi. Hoạt động bằng nhiều hình thức, công khai, bán công khai, bí mật, hợp pháp, bất hợp pháp. Bằng cả công sức, trí tuệ, xương máu để hoàn thành nhiệm vụ. Từ 1965-1968 đã có hơn 15.000 người tham gia. Điển hình là các đơn vị: Tổng đội TNXP Nguyễn Văn Trỗi, Tổng đội TNXP Hắc Hải (Quãng Ngãi), Tiểu đoàn TNXP 232 Anh hùng Phạm Thị Thao, TNXP tuyến vận tải H50 cực Nam Trung bộ. Các đơn vị đã hoàn thành nhiệm vụ cho đến ngày giải phóng miền Nam 30/4/1975. Với chiến trường Campuchia, TNXP cũng có 1 Tiểu đoàn tăng cường với 600 cán bộ, chiến sĩ phiên hiệu D601 phối hợp đánh địch. Sau khi hoàn thành nhiệm vụ đã biên chế phiên hiệu thành D579 chuyển sang lực lượng công an nhân dân vũ trang miền Đông Nam Bộ (T1). Với chiến trường Lào có Ban Xây dựng 64 Bộ GTVT, với Tổng Đội TNXP 572 làm đường, phục vụ vận tải và giúp các bạn Lào đến năm 1975.

          Lực lượng TNXP miền Nam đã phục vụ 641 trận đánh, trực tiếp chiến đấu 40 trận, bắt sống 856 tên địch, trong đó có 266 lính Mỹ, bắn rơi 5 máy bay, phá hủy 20 xe tăng, làm 29 km đường ô tô, 185 km đường xe thồ, 125m cầu, đào 1135m hầm hào, xây dựng 8 bệnh viện dã chiến; 272 kho quân dụng, vận chuyển 23.117 tấn hàng hóa, 9.538 thương binh. Đưa 18.000 lượt bộ đội qua sông, chăm sóc 2.077 thương binh, cung cấp cho lực lượng vũ trang 550 cán bộ, chiến sĩ, 160 người cơ quan Trung ương Cục, lực lượng TNXP giải phóng miền Nam đã được Ủy ban Trung ương Mặt trận giải phóng miền Nam tặng cờ truyền thống thêu 12 chữ vàng “Phục vụ quên mình, anh dũng xung phong, lập công vẻ vang”. Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam tặng: 1 Huân chương Thành đồng hạng nhất, 3 Huân chương Thành đồng hạng 3; 154 Huân chương Quân công; 359 Huy chương Giải phóng các loại, 54 dũng sĩ các loại và 8 tập thể, 15 cá nhân được phong tặng Danh hiệu Anh hùng LLVTND.

          Hòa bình lập lại, ghi nhận những thành tích đặc biệt xuất sắc của TNXP Việt Nam trong 2 cuộc kháng chiến, Đảng và Nhà nước ta đã tặng Huân chương Độc lập, Huân chương Hồ Chí Minh, Huân chương Sao Vàng, Danh hiệu Anh hùng LLVTND cho TNXP Việt Nam. Có 44 tập thể và 41 cá nhân được phong tặng danh hiệu Anh hùng LLVTND, Anh hùng Lao động 28.000 cán bộ chiến sĩ được tặng Huân chương, Huy chương kháng chiến, Huân chương Giải phóng, Huân chương Chiến công, Huân chương Lao động.

          Như vậy dưới sự lãnh đạo của Đảng, Trung ương Đoàn, TNXP Việt Nam không chỉ đào núi và lấp biển mà đã cùng các lực lượng vũ trang và toàn dân kháng chiến, đánh đuổi quân thù giành lại độc lập tự do cho dân tộc.

          Nhìn lại những chặng đường lịch sử: Đoàn Thanh niên đã lấy lời dạy của Bác làm phương châm hành động, biến sức mạnh của Thanh niên thành thực tiễn cách mạng. Phong trào TNXP trong lịch sử dân tộc như một mốc son chói lọi, nó ghi một dấu ấn về một giai đoạn lịch sử trong đấu tranh giành độc lập dân tộc, giác ngộ thanh niên, biến lòng yêu nước của thanh niên thành hành động của chủ nghĩa anh hùng cách mạng, tạo thành sức mạnh to lớn để đánh thắng kẻ thù, là dấu ấn không phai mờ trong lịch sử đấu tranh giành độc lập của dân tộc Việt Nam, là trang vàng trong lịch sử của Đoàn Thanh niên và Thanh niên thế hệ Hồ Chí Minh.

          Lời dạy của Bác, sức mạnh của Thanh niên Việt Nam còn lan tỏa ra thế giới, trở thành bài học cho thanh niên nhiều nước còn đang nằm trong sự kìm kẹp của thực dân, đế quốc, đấu tranh để giành lấy quyền sống, quyền hạnh phúc của mình. Là bài học lịch sử có tính thời đại, để thanh niên thế giới khâm phục Thanh niên Việt Nam và tôn trọng độc lập, tự do của dân tộc ta.

          Cùng với phong trào “Ba sẵn sàng” ở miền Bắc, phong trào “Năm xung phong ở miền Nam” trong giai đoạn chống Mỹ trở thành bài học đắt giá nhất của lịch sử Đoàn Thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh trong đấu tranh cách mạng, giải phóng dân tộc và thống nhất đất nước. Sức mạnh 4 câu thơ của Bác còn có ích cho tất cả các thời kỳ cách mạng và phát triển của đất nước trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc.


[1] Tổng kết 16 năm (1959-1975) Bộ Tư lệnh Trường Sơn 559 (Trong đó có Ban Xây dựng 67 Bộ GTVT) đã thông được đường Hồ Chí Minh từ Tân Kỳ (Nghệ An) đến Lộc Ninh (Tây Ninh) với chiều dài 17.000km gồm 5 tuyến trục dọc, 21 đoạn ngang, đường giao liên dài 3.000km, đường ống xăng dầu dài 1.400km, đường sông Sê Băng Hiên, Xê Kông, Mê Công và 1.300km đường dây thông tin, tải ba; đã chi viện cho chiến trường 5,5 triệu tấn xăng dầu, đưa 1,1 triệu cán bộ, chiến sỹ vào chiến trường; 560.000 cán bộ, chiến sĩ ra Bắc, bắn rơi 2.455 máy bay, bắt sống 18.700 tên địch.