Sau Hiệp định Giơ-ne-vơ (1954), miền Bắc bước vào công cuộc kiến thiết trong muôn vàn gian khó. Hơn 35.000 đội viên TNXP đã tiên phong nhận nhiệm vụ từ Đảng, hăng hái tham gia tiếp quản Thủ đô Hà Nội và thành phố Hải Phòng, đồng thời rà phá, thu dọn tàn tích chiến tranh tại chiến trường Điện Biên Phủ lịch sử. Bàn chân của những người trẻ ấy đã in dấu trên khắp các công trường trọng điểm, mang nhiệt huyết thanh xuân thắp sáng những vùng đất hoang vu, gian khổ nhất, góp phần tạo nên nền móng vững chắc cho công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội.

Đến năm 1964, khi đế quốc Mỹ leo thang, mở rộng chiến tranh phá hoại ra miền Bắc, tiếng gọi thiêng liêng của Tổ quốc một lần nữa hối thúc lớp lớp thanh niên lên đường. Ngày 25/5/1965, Đội TNXP Chống Mỹ cứu nước đầu tiên được thành lập tại Thanh Hóa với 1.200 đội viên. Dưới mưa bom bão đạn, họ là những “tấm lá chắn” kiên cường bám cầu, bám đường, giữ vững huyết mạch giao thông xuyên suốt. Với thành tích rực rỡ, lực lượng TNXP miền Bắc có 12 tập thể và 14 cá nhân được phong tặng, truy tặng danh hiệu Anh hùng. Thế nhưng, để đổi lấy những bản hùng ca ấy, hơn 2.000 chiến sĩ đã vĩnh viễn nằm lại chiến trường, gần 5.000 người gửi lại một phần xương máu và trên 15.000 cá nhân ưu tú được vinh dự đứng vào hàng ngũ của Đảng.
Trong khi đó, tại chiến trường miền Nam, tháng 3 năm 1965, phong trào “Năm xung phong” được Đại hội Đoàn Thanh niên Nhân dân Cách mạng Việt Nam lần thứ nhất thắp lên như một ngọn lửa. Lời thề “xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước” đã hóa thành ý chí sắt đá, đáp ứng khát vọng cống hiến, giải phóng quê hương của triệu triệu trái tim tuổi trẻ. Ngày 20/4/1965, đơn vị TNXP Giải phóng miền Nam C100 chính thức ra đời tại căn cứ Trung ương Cục (Tây Ninh) với 108 cán bộ, đội viên do đồng chí Nguyễn Đức Toàn làm Tổng đội trưởng. Qua ngọn lửa thử thách tại các chiến dịch Bình Giã, Đồng Xoài, lực lượng TNXP nhanh chóng phát triển rầm rộ. Chỉ trong hai năm 1966 – 1967, toàn miền Nam đã quy tụ gần 60.000 đội viên địa phương và cơ sở.
Khác với miền Bắc huy động theo nhiệm kỳ, TNXP Giải phóng miền Nam phục vụ không thời hạn. Họ là những chiến sĩ vô danh có mặt trên mọi mặt trận: từ tải thương, chăm sóc thương binh, đào hầm, làm kho tàng, cho đến trực tiếp cầm súng chiến đấu bên cạnh bộ đội chủ lực. Từ năm 1972 đến cuối 1973, Tổng đội đã kiên cường bám trụ, đón hơn 3.500 chiến sĩ chiến thắng trở về từ các nhà tù đế quốc, trước khi dốc toàn lực bước vào Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, trọn vẹn niềm vui tiếp quản Sài Gòn ngày 30/4/1975.
Tiêu biểu cho tinh thần bất khuất ấy là thế hệ thanh niên quê hương Đồng Khởi. Trong suốt thời kỳ chống Mỹ, Bến Tre đã huy động hơn 40.000 thanh niên tòng quân và tham gia du kích, trong đó có hơn 25.000 TNXP. Họ đã tạc vào lịch sử những cái tên bất tử như: Hồng Tới, Vì Dân, Thu Ba, Hồng Thắm, Tuyết Hạnh, Quốc Thắng, Ngọc Duy… và đặc biệt là Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân Lê Trung Kiên – biểu tượng rực rỡ của lớp thanh niên “Quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh”.
Hòa chung bản hùng ca ấy, Đội TNXP C2012 mang tên liệt sĩ Nguyễn Văn Tư được thành lập ngày 20/10/1965 tại ấp Giồng Lớn, xã Nhuận Phú Tân. Dưới lá cờ thêu dòng chữ “Phất cờ Đồng Khởi – Lập công xuất sắc”, 148 đội viên đầu tiên đã bước vào cuộc chiến với tâm thế: “Không tiền tuyến, không hậu phương – Đâu cách mạng cần đó là tiền tuyến”.
Suốt 10 năm binh lửa trong đội hình Tổng đội, họ đã sống anh dũng, chắc tay súng, vững tay thồ. Đội đã trực tiếp tham gia 189 trận đánh cấp trung, sư đoàn; vận chuyển 3.175 tấn vũ khí; cõng trên lưng và bảo vệ an toàn cho 2.140 thương binh. Toàn đội có hơn 90 lượt cá nhân được phong tặng danh hiệu Dũng sĩ diệt Mỹ, Dũng sĩ quyết thắng. Thế nhưng, chiến công nào cũng phải trả bằng máu. Trong 10 năm bi tráng ấy, 165 mái đầu xanh đã hòa mình vào đất mẹ, để lại tuổi đôi mươi nơi chiến hào; nhiều người trở về với thân thể không còn lành lặn và mang theo nỗi đau dai dẳng của chất độc màu da cam đến tận thời bình.
Trải qua chặng đường dài máu và hoa, Lực lượng TNXP Giải phóng miền Nam đã đúc kết nên truyền thống vàng son: “Phục vụ quên mình – Anh dũng xung phong – Lập công vẻ vang”. Những tấm Huân chương Thành đồng hạng Nhất, danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân cao quý dành cho Tổng đội và 11 cá nhân là minh chứng bất diệt cho một thời tuổi trẻ. Lịch sử dẫu lùi xa, nhưng tượng đài về lực lượng Thanh niên xung phong vẫn sẽ sừng sững tạc vào thời gian, nhắc nhở thế hệ hôm nay về những con người đã lấy thanh xuân của mình để dệt nên hình hài Tổ quốc.
Kỷ niệm 76 năm Ngày Truyền thống Thanh niên Xung phong Việt Nam (15/7/1950 – 15/7/2026)









































































