Cuốn sách “Người chiến sỹ ấy” (Nxb Thanh Niên) là tập hợp 17 bài viết chân thực, khắc họa sâu sắc chân dung Thiếu tướng Hoàng Anh Tuấn cùng hành trình quả cảm của những người lính dũng cảm, kiên cường trên đại ngàn Trường Sơn huyền thoại.

Thiếu tướng Hoàng Anh Tuấn ( bìa trái) cùng các cán bộ Hội Trường Sơn bên bia đi tích bến đò Mai Xá
Người lính gắn bó gần trọn hành trình huyền thoại
“Người chiến sỹ ấy” do Nhà xuất bản Thanh Niên phát hành là bức chân dung sống động về Thiếu tướng Hoàng Anh Tuấn, nguyên Bí thư Đảng ủy – Phó Chủ nhiệm Tổng cục Kỹ thuật về chính trị. 17 bài viết trong cuốn sách là 17 đường nét mềm mại với những sắc màu đan xen, tái hiện chân dung người lính Trường Sơn kiên cường giữa một trời ký ức thấm đẫm tình đồng chí, đồng đội và cả những nỗi niềm thao thức trước sự hy sinh của một thế hệ đi tìm độc lập, tự do. Dù mỗi tác phẩm mang một sắc thái và góc nhìn riêng, tất cả đều gặp nhau ở một điểm: tôn vinh sự dũng cảm và tình đồng đội bao la vượt qua những tháng ngày gian lao nơi Trường Sơn khốc liệt.
Trong lịch sử 16 năm vẻ vang của Đoàn 559 – Bộ đội Trường Sơn, Thiếu tướng Hoàng Anh Tuấn đã có 14 năm 3 tháng cùng đồng đội đồng hành. Ông có lẽ là một trong những người lính gắn bó với tuyến đường huyền thoại này lâu nhất.
Mỗi bài viết trong cuốn sách là một gam màu làm rõ hơn chân dung của ông từ thuở thiếu thời đến khi trưởng thành. Mồ côi cả cha lẫn mẹ từ nhỏ, tháng 2 năm 1961, khi mới 17 tuổi, anh xin nhập ngũ. Hoàn thành khóa huấn luyện lái xe cấp tốc, giữa năm 1961, Hoàng Anh Tuấn đã là một trong những người lính lái xe đầu tiên có mặt ở Trường Sơn. Nhờ sự gan dạ và mưu trí, con đường binh nghiệp của ông tiến triển nhanh chóng: 22 tuổi là cán bộ đại đội, 26 tuổi là chính trị viên tiểu đoàn và 31 tuổi đã giữ chức Chính ủy kiêm Trung đoàn trưởng Trung đoàn công binh.
Tuổi thơ của Hoàng Anh Tuấn trải qua nhiều đau thương khi phải chứng kiến cái chết của người mẹ Quỳnh Yến giữa mùa đông giá rét. Trong bài viết “Chính trị viên ở túi lửa” của tác giả Phương Việt có ghi lại khoảnh khắc xót xa: “Sáng 8-11-1953, chị thổ huyết, mắt đờ dại, cố gượng ôm đứa con côi cút thều thào: Tuấn ơi! mợ chê… ết đây” rồi máu trào ra ướt gối. Cậu bé Tuấn khi ấy chỉ biết ôm mẹ, nước mắt giàn giụa nức nở: “Mẹ. Mẹ ơi… sao lại bỏ con…”.
Những ký ức bi tráng giữa các tọa độ lửa
Người đọc không khỏi nghẹn ngào khi dõi theo những lần vượt trọng điểm trên con đường 20 Quyết thắng của Hoàng Anh Tuấn. Tác giả Hoàng Sơn trong bài “Những năm tháng vượt bão lửa Trường Sơn” đã tái hiện những giây phút sinh tử:
“Một đêm, Hoàng Anh Tuấn chỉ huy đơn vị chuyển hàng vượt trọng điểm cua chữ A. Khi qua Phu La Nhích, gần tới trọng điểm Chà Là thì máy bay địch ào tới rải bom bi. Tuấn lệnh cho anh em chạy tiếp. Tiến thêm chừng vài trăm mét, thấy một xe dừng phía trước, bảo Lê Văn Trà ngồi yên trên buồng lái, Hoàng Anh Tuấn chạy lên hỏi dồn:
– Xe Thất phải không, người và xe có sao không mà dừng lại?
– Xe trúng bom bi anh ạ. Khánh bị thương nặng lắm – Thất trả lời.
Tuấn nhào tới, vừa mở cánh cửa buồng lái thì Khánh đổ cả người vào anh. Máu trào ra từ hai lỗ thủng ở ngực thấu phổi. Tuấn ôm lấy Khánh, lệnh cho Nông Văn Thất cho xe chạy nhanh lên Lùm Bum để cấp cứu. Nhưng đến cây số 19 thì Khánh ngả hẳn vào Tuấn rồi tắt thở mà không kịp trăng trối lời nào. Sau khi cùng anh em công binh chôn cất Khánh, xe của Tuấn và Lê Văn Trà lại tăng tốc đuổi theo đội hình.
Đến cây số 86, gần bản Văng Viêng, họ lại gặp xe của Phạm Văn Hộ trúng bom bi, Hộ đã hy sinh. Tuấn và Dần cùng công binh lặng lẽ mai táng cho Hộ giữa đêm tối không hương, không hoa, không nghi lễ.
Một lần khác, tại cây số 89-90 đường 128, gần Noọng Cà Đeng, địch rải bom tọa độ. Tiến lên 1km trong khói bụi mịt mù, Tuấn thấy xe của Dần – người phụ lái vừa cùng anh chôn cất Khánh và Hộ – đang đỗ bất động. Dần nghẹn ngào: “Anh Tuấn ơi, anh Khôi chết rồi”. Khôi bị mảnh bom phạt ngang ngực, hy sinh ngay trên cabin. Tuấn bảo Dần ôm Khôi ngồi dạt sang phải, còn mình lấy búa gò lại chiếc vô lăng bị cong rồi trực tiếp cầm lái đưa Khôi lên km 91-92 để mai táng.”
Trong bài phỏng vấn của nhà báo Phùng Văn Khai, Thiếu tướng Hoàng Anh Tuấn bộc bạch: “Ở Trường Sơn, tôi trưởng thành từ người lính đến cán bộ trung đội, đại đội, tiểu đoàn, trung đoàn… Tôi đã nhiều lần ôm trên tay đồng đội vừa hy sinh, thân thể còn nóng ấm. Máu các anh chảy trên tay tôi còn nhói buốt đến tận bây giờ”.
Sứ mệnh tiếp tế đường sông và 81 ngày đêm Thành cổ
Nhà báo Phạm Thành Long – một người bạn thời chiến của Hoàng Anh Tuấn – chia sẻ trong bài viết “Tướng Hoàng Anh Tuấn mà tôi biết”: Ở Trường Sơn, Hoàng Anh Tuấn đã không ít lần vuốt mắt cho đồng đội. Anh thuộc nằm lòng từng địa hình, từng sự kiện xảy ra ở các trọng điểm trên đường 20 Quyết thắng, khu vực Bản Đông, và nhớ rõ họ tên, quê quán đến tận thôn, xóm của những người đã nằm xuống.
Ngày 2/5/1972, Quảng Trị giải phóng. Đến ngày 28/6/1972, liên quân Mỹ – ngụy mở chiến dịch Lam Sơn 72A nhằm chiếm lại Quảng Trị. Chúng oanh kích hủy diệt Vĩnh Linh và các vùng phía Tây, Tây Bắc Đông Hà, dọc đường 9, Cồn Tiên, Dốc Miếu xuống Cửa Việt, Cửa Tùng nhằm phong tỏa đường bộ.
Trước yêu cầu khẩn cấp phải tiếp tế lương thực, đạn dược và thuốc men cho lực lượng bảo vệ Thành cổ Quảng Trị, Bộ Tư lệnh Trường Sơn quyết định thành lập Tiểu đoàn ca nô 166 vận tải đường thủy (trực thuộc Binh trạm 12). Hoàng Anh Tuấn, khi ấy là phái viên Cục Chính trị Bộ đội Trường Sơn, được “chọn mặt gửi vàng” giữ chức Chính trị viên Tiểu đoàn ca nô 166.
Dù chuyển từ vận tải bộ sang vận tải thủy đầy bỡ ngỡ, ông đã cùng ban chỉ huy tiểu đoàn tổ chức lực lượng, mưu trí vượt qua mưa bom của máy bay, pháo bầy từ Hạm đội 7 và hệ thống thủy lôi dày đặc trên sông Thạch Hãn. Hàng trăm chuyến ca nô của Tiểu đoàn 166 đã hoạt động suốt ngày đêm suốt 81 ngày đêm của mùa hè năm 1972 để chi viện cho thị xã Quảng Trị và Thành cổ, đồng thời vận chuyển thương binh ra ngoài an toàn.
Kể lại kỷ niệm những ngày vượt sông Thạch Hãn với nhà báo Trần Hoàng Tiến, Thiếu tướng Hoàng Anh Tuấn chia sẻ: “Tôi chưa bao giờ và chưa ở đâu chứng kiến sự đánh phá khốc liệt, dữ dội của địch như ở Quảng Trị mùa hè năm 1972”.
Tối 21/7/1972, khi đi cùng Đại đội 8 ngang qua khu vực xã Triệu Thuận, thấy thuyền phía trước bắn 3 phát đạn lửa AK chỉ thiên, ông phán đoán thuyền bạn gặp sự cố nên giục anh em tăng tốc đến ứng cứu. Bất ngờ, một quầng lửa bùng lên kèm tiếng nổ dữ dội hất tung cả con thuyền cùng hàng hóa lên trời. Thuyền đã dính thủy lôi của địch. Hoàng Anh Tuấn bị chấn thương nặng, mặt mũi dập nát và gần như tắt thở. Ông may mắn được cứu sống, nhưng Sơn (lái trưởng), Miến (thủy thủ) cùng hai chiến sỹ khác trên tàu đã vĩnh viễn nằm lại dòng sông trong đêm 21, rạng sáng ngày 22/7 ấy.
Cuộc tình đại ngàn và ‘Ngôi nhà chung’ thời bình
Bên cạnh sự khốc liệt của chiến tranh, “Người chiến sỹ ấy” còn tái hiện một tình yêu lứa đôi trong sáng, thủy chung giữa Hoàng Anh Tuấn và cô y sỹ chiến trường Nguyễn Thị Minh Cử – mối tình được đồng đội ví như một “cuộc tình huyền thoại trên đại ngàn Trường Sơn”.
Tháng 11 năm 1967, sau khi tốt nghiệp Trung cấp y Phú Thọ (khóa Y-16), cô nữ sinh quê Thanh Ba (Phú Thọ) Nguyễn Thị Minh Cử tình nguyện nhập ngũ. Tháng 4 năm 1968, chị cùng các đồng đội quân y sỹ đầu tiên lên đường vào chiến trường Trường Sơn khói lửa. Mối tình của họ nảy nở khi Hoàng Anh Tuấn đang là Chính trị viên Đại đội 1 Anh hùng (thuộc Tiểu đoàn ô tô vận tải 52), còn chị Minh Cử là quân y sỹ thuộc Cục Chính trị Bộ đội Trường Sơn (được ghi lại trong bài “Trong ấy có một tiếng quê” của Phạm Sinh).
Khi hòa bình lập lại, Thiếu tướng Hoàng Anh Tuấn cùng Thiếu tướng Võ Sở và các cựu chiến binh đã cùng nhau xây dựng Hội Trường Sơn, đường Hồ Chí Minh Việt Nam. Đây trở thành “ngôi nhà chung” được tổ chức chặt chẽ từ Trung ương đến tận cấp phường, xã với hơn 30,1 vạn hội viên để thực hiện các hoạt động nghĩa tình. Ông từng trải lòng với nhà thơ Nguyễn Hữu Quý: “Cứ nghĩ đến anh em đồng đội trong những năm tháng chiến tranh ác liệt, nhất là những người đã ngã xuống ở Trường Sơn, lòng mình nôn nao thương nhớ. Chẳng thể sống không tử tế được. Làm được gì cho đồng đội, anh em chúng mình vui vẻ lắm…”.
Thông điệp sâu sắc gửi lại thế hệ mai sau
Cuốn sách mang đến cho độc giả những cái tên đã đi vào lịch sử như Phan Trọng Tuệ, Đồng Sỹ Nguyên, Đặng Tính, Lê Xy, Vũ Tiến Đề, Phạm Tiến Duật, Nguyễn Đức Dụ cùng các địa danh huyền thoại: Lùm Bum, Cốc Mạc, Tà Khống, Văng Mu, cua chữ A, đèo Phu La Nhích, ngầm Ta Lê… Những trang viết giàu chi tiết đắt giá, ám ảnh đã chứng minh một chân lý: Giữa ranh giới sinh tử của bom đạn, chính tình người, tình đồng chí, đồng đội cao cả đã nương tựa và tạo nên sức mạnh bền bỉ giúp người lính vượt qua đạn lửa để đi đến ngày chiến thắng độc lập.
Không dùng những ngôn từ tô vẽ, các tác giả đã nâng niu từng mảnh ký ức dung dị, chân chất về Trường Sơn. Cuốn sách gửi gắm thông điệp sâu sắc: Ký ức không chỉ để hoài niệm, mà để nhìn lại, thấu hiểu và nhắc nhở thế hệ hôm nay sống tử tế hơn, biết ơn hơn trước những hy sinh cống hiến của thế hệ cha anh đi trước.
Đại tá, PGS, TS Đỗ Ngọc Thứ









































































