
Ảnh internet
Vào một đêm cuối tháng 10 năm 1971, tiểu đội chúng tôi vừa trở về sau ca trực san lấp hố bom, cơ thể còn vương đầy bụi đất thì nhận được lệnh khẩn từ đại đội: Chuẩn bị nhận nhiệm vụ ngay trong đêm.
Cái tin ấy khiến cả tiểu đội xôn xao. Dù đã quen với việc xông pha, nhưng sự gấp gáp lần này khiến lòng anh em không khỏi hồi hộp. Tiểu đội trưởng Trịnh Xuân Nha – người vốn điềm tĩnh – nay cũng nghiêm nét mặt, dặn dò kỹ lưỡng: Tuyệt đối chấp hành mệnh lệnh, giữ bí mật tối đa. Đường đi đêm nay hiểm trở, không đèn pin, không ánh sáng, khoảng cách giữa người với người phải giữ như dây đàn. Bất cứ sai sót nào cũng có thể trả giá bằng máu.
Đúng 7 giờ tối, chúng tôi xuất phát. Sau hơn một giờ xuyên rừng, cả đội tập kết tại một vị trí bí mật, cách đường 16A khoảng 20 phút đi bộ. Tại đây, nhiệm vụ mới thực sự bắt đầu: Tải thương binh về trạm điều trị 27.
Cung đường vận chuyển dài thăm thẳm, vắt qua đường 16A rồi rẽ sang đường 10 tại Km 70. Nhưng khổ nhất là đoạn vào trạm, phải đi theo đường giao liên. Có lúc chúng tôi phải bò trườn trên sườn đồi dốc đứng, có lúc lại lội bì bõm dưới lòng suối lạnh ngắt, lúc lại men theo những vách đá tai mèo sắc lẹm, chỉ cần sẩy chân một chút là cả người lẫn cáng rơi xuống vực sâu.
Đêm cuối tháng, rừng già tối đen như hũ nút. Những tán lá đan xen tầng tầng lớp lớp nuốt chửng chút ánh sáng le lói của các vì sao. Chỉ thỉnh thoảng, khi những chiếc F4H thả từng chùm pháo sáng soi mói dọc triền đường, cánh rừng mới hiện lên một màu trắng nhợt nhạt, kinh dị. Nhờ thứ ánh sáng chết chóc ấy, chúng tôi mới thấy rõ hơn lối đi.
Giữa sự tĩnh lặng đến rợn người, chỉ có tiếng róc rách của dòng suối và tiếng chim “bắt cô trói cột” thê thiết gọi bầy. Thi thoảng, tiếng động cơ rầm rú của lũ “thần sấm”, “con ma” đi ăn đêm lại rít lên trên đỉnh đầu, làm da gà người ta nổi cục. Dưới tán lá rừng Trường Sơn, từng cặp chiến sĩ lặng lẽ bước đi. Vai áo đẫm mồ hôi, chân mỏi rã rời nhưng không một ai than thở. Ai cũng chỉ đau đáu một tâm niệm: Đi nhanh hơn một chút, khéo léo hơn một chút để đưa các anh về trạm an toàn.
Lạ thay, những thương binh trên cáng dù vết thương còn đau nhức, máu có thể vẫn đang rịn qua lớp băng, nhưng tuyệt nhiên không một tiếng kêu la, rên rỉ. Sự chịu đựng của các anh như truyền thêm sức mạnh vào đôi vai đang run lên vì sức nặng của chúng tôi.
Chuyến thứ nhất hoàn thành an toàn. Anh em chỉ kịp uống hớp nước rừng, nghỉ tay trong chốc lát rồi lại hối hả lên đường ngay. Đêm càng về khuya, không gian càng trở nên khốc liệt. Pháo sáng rực trời, lũ F4H chao đảo tìm mồi. Đến chuyến thứ hai, khi đã đi được quá nửa chặng đường, biến cố xảy ra.
Tiếng động cơ gầm rú xé toạc màn đêm. Hai chiếc máy bay lao xuống như chim ưng vồ mồi, pháo sáng rực lên rồi bom nổ, đạn nã xối xả xuống cung đường.
– Nằm xuống! Bảo vệ thương binh! – Tiếng tiểu đội trưởng hét lên.
Như một phản xạ tự nhiên, không ai bảo ai, tất cả anh em đồng loạt hạ cáng và ngay lập tức lấy chính thân thể mình nằm đè lên che chắn cho người thương binh. Chúng tôi thà để mảnh bom găm vào lưng mình còn hơn để các anh phải chịu thêm một lần đau đớn. Đất đá bắn tung tóe, khói bom khét lẹt. Khi tiếng động cơ xa dần, mọi người lồm cồm bò dậy, người nọ phủi đất trên áo người kia. Thật là một phép màu, cả đội chỉ bị đất vùi nhẹ, tất cả lại khẩn trương xốc cáng vượt qua trọng điểm.
Đêm mùa đông se lạnh, vậy mà lưng áo ai nấy đều ướt đẫm, mồ hôi nhễ nhại chảy xuống mắt cay xè. Đúng 4 giờ sáng, chuyến cuối cùng cũng về tới trạm. Trong ánh sáng lờ mờ của trạm quân y 27, bác sĩ Hồng Thị bước ra, thay mặt đơn vị đón nhận thương binh và gửi lời cảm ơn chân thành. Mỗi chúng tôi được phát một miếng bánh lương khô – món quà giản dị mà ấm áp vô cùng giữa rừng sâu.
Chúng tôi trở về đơn vị khi bình minh vừa hé rạng. Lòng nhẹ bẫng vì đã hoàn thành nhiệm vụ, vì tất cả anh em đã được an toàn.
Thời gian thấm thoắt thoi đưa, vậy mà đã hơn nửa thế kỷ trôi qua. Những chàng trai mười tám, đôi mươi ngày ấy giờ tóc đã bạc màu mây. Nhưng mỗi lần gặp lại, kể cho nhau nghe về đêm tải thương ấy, mọi chi tiết vẫn vẹn nguyên, tươi mới như thể chuyện vừa mới xảy ra ngày hôm qua. Trường Sơn đêm ấy, tình đồng chí đêm ấy… sẽ mãi là ngọn lửa cháy hoài trong ký ức của chúng tôi.
Bùi Văn Hoằng
Hội viên HVHNTTS









































































