Những ngày đầu tháng 6 năm 2026, dải Trường Sơn đón đoàn cựu chiến binh và cựu thanh niên xung phong chúng tôi bằng cái nắng rát bỏng đặc trưng của gió Lào Quảng Trị. Nhưng khi chiếc xe rẽ qua vùng Rào Quán để hướng về Chiến khu Ba Lòng, cái ngột ngạt của trưa hè bỗng nhường chỗ cho một làn gió mát lành, mang theo hơi thở phóng khoáng của đại ngàn và sông nước. Khúc sông thượng nguồn dài hơn 25 cây số này được nhân dân địa phương ôm ấp gọi bằng cái tên thân thương: sông Ba Lòng. Chảy qua các xã Đakrông, thị trấn Krông Klang, Mò Ó, Triệu Nguyên rồi mới đến Ba Lòng, dòng sông ấy thực chất chính là phần hồn, là ngọn nguồn của dòng Thạch Hãn thân thương.

Đoàn chúng tôi dừng chân tại bản Cu Pô, nơi dòng Đakrông hợp lưu với sông Ba Lòng. Nhìn dòng nước xanh trong lững lờ trôi, ít ai ngờ nơi đây từng là một vùng chiến khu “gian lao mà anh dũng”. Đồng bào Bru – Vân Kiều nơi đây bao đời vẫn gắn bó với dòng sông được tạo thành từ ba con khe huyền thoại: Khe Bùm, Khe Su và Khe Dâu. Dòng nước chở nặng phù sa và lịch sử ấy cứ thế nối vào sông Thạch Hãn, xuôi dòng ra Cửa Việt, mang theo cả tuổi xuân một thời oanh liệt của biết bao người lính.
Ký ức của những năm tháng chống Pháp, chống Mỹ cuồn cuộn ùa về trong tâm trí tôi như thác lũ. Xưa kia, Ba Lòng là vùng đất hiếm hoi đường bộ, địa hình đồi núi chập trùng, suối sâu nước chảy xiết. Việc đi lại của nhân dân và bộ đội chủ yếu dựa vào những chiếc thuyền đuôi én, xuồng ghe thô sơ. Mỗi chuyến vượt sông trong tầm bom mũi đạn là một lần đối mặt với lằn ranh sinh tử. Thuở ấy, cầu Đakrông chỉ là một chiếc cầu sắt gầy guộc, dã chiến nhưng kiên cường gồng mình gánh chịu bom cày đạn xới để bảo đảm tuyến vận tải huyết mạch cho chiến trường miền Nam.
Giờ đây, đứng trên đỉnh cầu Đakrông mới, tôi lặng người đi trước sự đổi thay kỳ diệu của quê hương. Cây cầu sắt chiến tranh đầy thương tích năm xưa đã nhường chỗ cho một công trình dây văng hiện đại, sừng sững bắc qua dòng sông trên tuyến đường Hồ Chí Minh huyền thoại. Chiếc cầu dài hơn trăm mét, rộng sáu mét với những nhịp dây văng thanh thoát như những phím đàn khổng lồ đang tấu lên khúc ca hòa bình giữa đại ngàn. Nằm trên trục Quốc lộ 9 hướng về Cửa khẩu Quốc tế La Lay, cây cầu như một nét vẽ kiêu hãnh giữa vùng danh lam thắng cảnh Đakrông, tạo nên một cảnh sắc hùng vĩ, soi bóng xuống thượng nguồn dòng Thạch Hãn. Trong tiếng gió ngàn, tôi chợt nghe như có giai điệu da diết của bài hát “Đêm Quảng Trị” mà nhạc sĩ Huy Thục phổ nhạc từ thơ Vũ Ngàn Chi vang vọng: “Sông Ba Lòng ơi, ta muốn áp tai nghe… Gạo Triệu Hải đò nằm ngang sóng vỗ/ Ta vượt Trám rồi rộn rã mái chèo khua.”
Đêm ấy, thung lũng chiến khu xưa bập bùng ánh lửa. Giữa không gian thắm đượm nghĩa tình đồng đội, chúng tôi – những mái đầu đã bạc, những cựu binh và cựu TNXP từng vào sinh ra tử – ngồi quây quần bên nhau. Nhìn những nụ cười rạng rỡ và ánh mắt thân thương của đồng đội dưới ánh lửa hồng, lòng tôi trào dâng một niềm xúc cảm mãnh liệt. Thay cho lời tâm sự, tôi bước lên sân khấu khẽ hắng giọng, ứng tác đọc bài thơ viết vội từ chiều gửi tặng những người đồng chí, tặng mảnh đất anh hùng đang thay da đổi thịt từng ngày:
BA LÒNG ĐỔI THAY
Tôi lại về Quảng Trị
Đi trên sông Ba Lòng
Ngắm cảnh cầu Đakrông
Lòng trào dâng phấn khởi.
Vùng chiến khu đổi mới
Khu di tích Quốc gia
Sông Ba Lòng hát ca
Tiếng quân reo Quảng Trị.
Quân dân một ý chí
Đất Quảng Trị Anh hùng
Vùng chiến khu điệp trùng
Sông Ba Lòng luôn nhớ.
Đồng đội tôi đã ở
Xây dựng khu Ba Lòng
Tự hào với dòng sông
Thượng nguồn sông Thạch Hãn.
Tôi cất cao giọng hát
Sông bay bổng lời ca
Vùng chiến khu quê nhà
Đất anh hùng Quảng Trị.
Tiếng vỗ tay vang lên rộn rã, hòa cùng tiếng gió rừng tre nứa và tiếng thở phập phồng của dòng sông. Đêm Ba Lòng thao thức. Khúc vĩ thanh của chuyến trở về không khép lại bằng nỗi trầm mặc, mà lung linh một niềm tin khôn tả vào tương lai xanh ngắt nơi ngọn nguồn sông Thạch Hãn.
Lưu Sỹ Mùi
Hội Nạn nhân chất độc da cam/dioxin tỉnh Thái Nguyên









































































