Có những ký ức tưởng như đã ngủ yên theo bụi thời gian, nhưng chỉ cần một làn gió thoảng qua cũng đủ khiến trái tim tôi thổn thức. Đó là những năm tháng ở chiến khu Đại Lộc[1] – nơi tôi đã lớn lên giữa tiếng bom rền và những mất mát xé lòng, nhưng cũng là nơi tôi được tắm mát trong tình đồng đội bao dung, nhân hậu. Viết lại những dòng này, tôi không chỉ muốn tri ân một thời hoa lửa, mà còn mong những người trẻ hôm nay thấu hiểu hơn giá trị của hòa bình – một giá trị vốn được kết tinh từ lòng yêu nước và sự hy sinh vô bờ bến.
Ngày 27 tháng 3 năm 1966 là vết sẹo không bao giờ lành trong tâm khảm tôi. Ngày ấy, làng Thanh Châu (Duy Xuyên, Quảng Nam) đang yên bình thì bỗng chốc biến thành địa ngục. Lính Mỹ tràn vào, súng nổ chát chúa, khói lửa mịt mù. Tôi chết lặng chứng kiến cảnh bà ngoại, ông nội, em gái bé bỏng cùng bốn người hàng xóm ngã xuống dưới họng súng của quân thù.
Ám ảnh nhất là đôi mắt đen tròn ngấn lệ của em gái tôi. Trong những phút cuối cùng của cuộc đời, em mấp máy môi đòi nước uống. Tôi bất lực nhìn vết thương hở toang trên cơ thể bé nhỏ của em mà chẳng thể làm gì để cứu chữa. Hình ảnh ấy cứ đeo đẳng tôi suốt hơn nửa thế kỷ, trở thành nỗi đau âm ỉ nhưng cũng là sức mạnh thôi thúc tôi bước tiếp.
Sống sót sau vụ thảm sát, khi mới tròn 14 tuổi – cái tuổi lẽ ra còn được cắp sách tới trường – tôi đã theo Bác lên chiến khu Đại Lộc. Hành trình kháng chiến của tôi bắt đầu từ đó. Cuộc sống chiến khu mở ra với vô vàn gian khó, nhưng giữa sự khắc nghiệt của núi rừng, tôi đã tìm thấy lý tưởng của cuộc đời mình.
Công việc đầu tiên của một “chú liên lạc” là học cách gõ máy chữ để làm văn thư cho cơ quan Trường Đảng tỉnh Quảng Đà. Những ngày đầu, tôi ngây ngô nghĩ chiến khu chỉ có tiếng súng, nào ngờ nơi đây còn có những công việc thầm lặng mà vĩ đại: gùi hàng, tăng gia sản xuất, tiếp tế nhu yếu phẩm… Các anh chị thanh niên xung phong đã dạy tôi rằng: mỗi đóng góp, dù nhỏ bé như một hạt cát, cũng đều góp phần xây dựng nên tượng đài thắng lợi chung.
Ngoài đánh máy, tôi còn trực giao liên. Đường rừng Đại Lộc âm u, rậm rạp, tiếng chim kêu vượn hú trong màn đêm tĩnh mịch thường xuyên bủa vây tâm trí một đứa trẻ 14 tuổi. Những lần một mình băng rừng vượt suối, tôi chỉ biết cắm đầu chạy thật nhanh, đôi chân trần đạp trên lá mục mà lòng chỉ mong sớm gặp được bóng áo xanh của các anh chị gùi hàng để bớt đi nỗi cô đơn, sợ hãi.
Là em út trong cơ quan, tôi được mọi người yêu thương, nhường nhịn hết mực. Tôi nhớ mãi miếng cơm cháy thơm lừng các anh chị để dành cho sau mỗi chuyến giao liên về muộn; nhớ bát cháo nóng có quả trứng gà hiếm hoi mỗi khi cơn sốt rét rừng hành hạ. Tình cảm giản dị ấy đã sưởi ấm trái tim non nớt của tôi giữa những đêm dài bom Mỹ ném xuống rung chuyển cả núi rừng. Trong cái lán nhỏ ấy, tiếng côn trùng rỉ rả hòa cùng tiếng bom xa, tôi thầm tự nhủ: mình phải sống, phải lớn lên để trả thù cho người thân và bù đắp cho những hy sinh của đồng đội.
Chiến khu Đại Lộc đã rèn luyện tôi thành người. Những cái tên như anh Tam, chị Hường, chị Ba, chị Năm, chị Trung… không chỉ là đồng chí, mà là những người ruột thịt trong một gia đình lớn. Chúng tôi dựa vào nhau để đứng vững qua những cơn đói, những trận càn, vì một niềm tin sắt đá vào ngày đất nước hoàn toàn giải phóng.
Ngày 19 tháng 4 năm 2025, trong không khí kỷ niệm 50 năm ngày thống nhất đất nước, tôi trở lại gặp mặt đồng đội năm xưa theo lời mời của Ban liên lạc hưu trí Tuyên huấn Quảng Đà. Sau hơn nửa thế kỷ, những chàng trai cô gái trẻ măng ngày nào giờ tóc đã bạc, lưng đã còng, đôi chân tập tễnh vì vết tích chiến tranh.
Nhìn những ánh mắt đã mờ đục theo thời gian nhưng vẫn lấp lánh niềm vui khi gặp lại nhau, tôi không khỏi nghẹn ngào. Có người là thương binh nặng, có người mang trong mình di chứng chất độc da cam, và cũng có nhiều người đã vĩnh viễn nằm lại dưới những tán rừng già… Chúng tôi tay bắt mặt mừng, kể cho nhau nghe về con cháu, về sự đổi thay của quê hương. Mỗi ngôi trường mới, mỗi con đường trải nhựa hôm nay chính là phần thưởng lớn lao nhất cho những hy sinh thầm lặng của chúng tôi ngày ấy.
Tôi lặng người khi nghĩ về những người bạn đã bỏ lại tuổi xuân và ước mơ nơi chiến trường để đổi lấy sắc xanh của hòa bình. Chiến khu Đại Lộc không chỉ là nơi lưu giữ ký ức đau thương, mà còn là cái nôi nuôi dưỡng ý chí, lòng nhân ái và bản lĩnh của tôi. Nếu không có những ngày gian khổ ấy, chắc chắn sẽ không có tôi của ngày hôm nay – một người biết trân trọng từng phút giây của cuộc sống bình yên.
Với tôi, Đại Lộc là ngôi nhà thứ hai, là nơi những trái tim bé nhỏ đã cùng nhau thắp sáng ước mơ độc lập cho dân tộc. Dù thời gian có trôi đi, dù vạn vật có đổi thay, ký ức về chiến khu vẫn mãi là ngọn lửa cháy rực trong hành trình cuộc đời tôi.

Tượng đài Chiến thắng Thượng Đức tại xã Đại Lãnh, huyện Đại Lộc, tỉnh Quảng Nam (trước đây) . Ảnh: Internet
Trần Văn Sơn
[1] Chiến khu Đại Lộc là một căn cứ quan trọng của cách mạng Việt Nam trong kháng chiến chống Mỹ ở huyện Đại Lộc, tỉnh Quảng Nam (nay thuộc Đà Nẵng), đóng vai trò chiến lược trên hành lang vận chuyển từ đường Trường Sơn xuống đồng bằng ven sông Vu Gia và Quốc lộ 14B









































































