
Quang cảnh trường thi Nam Định khoa thi năm Nhâm Tý (1912) với chòi canh và lều chõng của thí sinh – Ảnh tư liệu
Màu xanh mượt mà Gò Nổi,
Nông Sơn lụa đẹp dâng đời,
Lúa ngô đôi bờ tươi tốt
Kỳ Lam khúc mẹ đưa nôi.
Miền quê địa linh nhân kiệt,
Rạng danh khoa cử bao đời,
Thi Đình, thi Hương, thi Hội,
“Ngũ hổ đăng khoa”[1] rạng ngời.
Điện Bàn quê hương cách mạng,
Dũng sĩ Điện Ngọc kiên cường,
Nữ anh hùng Trần Thị Lý,
Tự hào trang sử quê hương.
Anh Trỗi bước ra pháp trường,
Giật mảnh băng đen bịt mắt,
Trừng trừng nhìn vào lũ giặc,
Hô vang tên Bác kính yêu!
Về thăm Điện Bàn một chiều,
Thu Bồn phù sa đỏ nắng,
Bồ Bồ rền vang chiến thắng,
Thanh Chiêm ngon mì Quảng Nam.
Yêu sao Gò Nổi – Kỳ Lam
Mộc mạc tình người tình đất,
Yêu từng tấm lòng chân thật,
Làm nên kỳ tích Điện Bàn.
|
STT |
Tên |
Quê quán |
Học vị |
Ghi chú |
|
1 |
Phạm Liệu |
Làng Trừng Giang, nay thuộc xã Điện Trung, Điện Bàn |
Tiến sĩ (Đệ tam giáp đồng tiến sĩ xuất thân) |
|
|
2 |
Phan Quang |
(Quế Sơn, Quảng Nam) |
Tiến sĩ (Đệ tam giáp đồng tiến sĩ xuất thân) |
Người duy nhất không phải dân Điện Bàn trong nhóm |
|
3 |
Phạm Tuấn |
Làng Xuân Đài, xã Điện Quang, Điện Bàn |
Tiến sĩ (Đệ tam giáp đồng tiến sĩ xuất thân) |
Còn gọi là “ông nghè nhị khoa” vì thi Hội lần thứ 2 mới đỗ |
|
4 |
Ngô Chuân (Ngô Lý) |
Làng Cẩm Sa, Điện Nam, Điện Bàn |
Phó bảng |
|
|
5 |
Dương Hiển Tiến |
Làng Cẩm Lậu, xã Điện Phong, Điện Bàn |
Phó bảng |
Điện Bàn,8/2026
Đậu Trung Thành
Hội viên Hội VHNT Trường Sơn.
[1] 5 người đỗ cùng khoa thi Hội và thi Đình Mậu Tuất 1898 (niên hiệu Thành Thái thứ 10) đều là người Quảng Nam, nhưng trong đó 4 người là dân phủ Điện Bàn, còn Phan Quang quê ở Quế Sơn. Tuy nhiên, nhiều tư liệu địa phương và truyền khẩu dân gian ở Điện Bàn thường gọi chung là “5 thí sinh Điện Bàn” vì: Điện Bàn chiếm 4/5 vị trí, nổi bật nhất. Khoa thi này được coi là niềm tự hào đặc biệt của vùng đất học Điện Bàn, nên cách gọi mang tính biểu trưng, nhấn mạnh sự “đồng hương, đồng khoa” của cả nhóm









































































