Quốc hội Khóa I- Một dấu ấn lịch sử

Nước Việt Nam 4.000 năm lịch sử đã có trên 1.000 năm Bắc thuộc. Các thế lực phong kiến phương Bắc đã xâm lược Việt Nam, xây dựng chính quyền, đàn áp đồng bào ta, người dân không có quyền quyết định vận mệnh của mình. Năm 938, Ngô Quyền lãnh đạo nhân dân đánh bại quân Nam Hán trong trận Bạch Đằng, kết thúc gần một ngàn năm Bắc thuộc, mở ra một thời kì độc lập lâu dài của Việt Nam. Các triều đại liên tục phải chống đỡ với các cuộc xâm lăng từ phương Bắc, xây dựng chính quyền phong kiến, nhưng người dân vẫn không có quyền tự quyết. Từ năm 1858 Thực dân Pháp xâm lược nước ta, xây dựng chính quyền thực dân nửa phong kiến đàn áp, cai trị nhân dân ta, biến người dân thành nô lệ, một cổ nhiều tròng, dân chủ bị bóp nghẹt. Đất nước mất độc lập, dân không được tự do, nhiều cuộc biểu tình, nổi dậy của nhân dân ta đã bị dìm trong biển máu.

Từ ngày Đảng ra đời (3/2/1930), Đảng đã lãnh đạo nhân dân ta đứng lên làm cuộc cách mạng dân tộc dân chủ, giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp, giành lại độc lập, tự do cho nhân dân. Đỉnh điểm là cuộc Cách mạng tháng 8 năm 1945, toàn dân nổi dậy, giành chính quyền về tay nhân dân. Ngày 2/9/1945, tại quảng trường Ba Đình, Bác Hồ đã đọc bản “Tuyên ngôn độc lập”, thành lập nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, nhà nước công nông đầu tiên ở Đông nam Á.

Chủ tịch Hồ Chí Minh cùng các thành viên của Chính phủ tuyên thệ nhậm chức
tại Kỳ họp thứ nhất, Quốc hội khóa I (2-3-1946).

Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng một trong những cơ sở đầu tiên của Nhà nước là Hiến pháp, mà muốn có Hiến pháp phải có Quốc hội. Ngày 3 tháng 9 năm 1945, tức là một ngày sau khi Nhà nước cách mạng ra đời, trong phiên họp đầu tiên của Chính phủ lâm thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đề nghị Chính phủ: “Tổ chức càng sớm càng hay cuộc Tổng tuyển cử với chế độ phổ thông đầu phiếu. Tất cả các công dân trai gái 18 tuổi đều có quyền ứng cử và bầu cử, không phân biệt giầu, nghèo, tôn giáo, dòng giống…”

Ngày 8/9/1945 Chủ tịch Hồ Chí Minh ban hành Sắc lệnh số 14-SL quy định cuộc Tổng tuyển cử để bầu Quốc hội; tiếp theo đó Bác ký ban hành các Sắc lệnh: Số 39-SL ngày 26/9/1945 về thành lập Uỷ ban dự thảo thể lệ cuộc Tổng tuyển cử; số 51-SL ngày 17/10/1945 quy định thể lệ Tổng tuyển cử phải thực hiện theo lối phổ thông đầu phiếu, bầu cử trực tiếp và bỏ phiếu kín; số 71-SL ngày 2/12/1945 bổ khuyết điểm 11 Chương V của Sắc lệnh 51-SL nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho người ứng cử. Công việc chuẩn bị Tổng tuyển cử diễn ra rất khẩn trương trong điều kiện thù trong, giặc ngoài; trong bối cảnh kinh tế xã hội hết sức khó khăn. Các ban bầu cử đã được thành lập tới tận làng xã do Uỷ ban nhân dân các cấp trực tiếp đảm nhiệm. Nhiều người có đức, có tài xung phong ra ứng cử hoặc được quần chúng giới thiệu ra ứng cử. Danh sách cử tri và ứng cử viên đã được hoàn thành và niêm yết công khai. Quần chúng sôi nổi trao đổi tranh luận, chất vấn nhằm lựa chọn được những người xứng đáng nhất làm đại diện cho mình, hạn chế những phần tử cơ hội lợi dụng dịp Tổng tuyển cử để tranh quyền, giành chức.

Ngày 5/1/1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh ra lời kêu gọi quốc dân đi bỏ phiếu, trong đó có đoạn: “Ngày mai là một ngày vui sướng của đồng bào ta, vì ngày mai là ngày Tổng tuyển cử, vì ngày mai là ngày đầu tiên trong lịch sử Việt Nam mà nhân dân ta bắt đầu hưởng dụng quyền dân chủ của mình… Ngày mai, dân ta sẽ tự do lựa chọn và bầu ra những người xứng đáng thay mặt cho mình và gánh vác việc nước.” Ở các tỉnh miền Bắc, mặc dù phải đối phó với âm mưu phá hoại của kẻ thù, nhưng cuộc Tổng tuyển cử vẫn diễn ra an toàn; còn các tỉnh phía Nam, nhất là ở Nam bộ, cuộc bầu cử diễn ra dưới bom đạn ác liệt của giặc Pháp. 7h sáng ngày 6/1/1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã cùng hàng vạn cử tri Thủ đô đi bỏ phiếu, làm nhiệm vụ công dân. Bác đã đi bầu ở phòng bỏ phiếu đặt tại nhà số 10 phố Hàng Vôi (nay là phố Lý Thái Tổ, Hà Nội). Sau khi hoàn thành nghĩa vụ công dân của mình, Bác đến thăm một số phòng bỏ phiếu ở các phố Hàng Bạc, Hàng Gai, Hàng Trống, Thụy Khuê, làng Hồ Khẩu và Ô Đông Mác. Bác đặc biệt cảm động khi chứng kiến các cụ già 70, 80 tuổi vẫn được con cháu cõng đi bỏ phiếu hoặc nhiều người mù vẫn nhờ người nhà dẫn đến hòm phiếu để tự tay mình làm nhiệm vụ công dân.

Người dân Hà Nội đi bỏ phiếu bầu cử Quốc hội Khóa I vào ngày 6-1-1946. Ảnh: Tư Liệu  

Các vùng đồng bằng, miền núi, đô thị và nông thôn người dân nô nức đi bầu bằng nhiều hình thức: Những nơi Việt Minh có chính quyền, đồng bào được tự do đến các điểm bỏ phiếu thực hiện quyền công dân của mình. Những nơi có sự đàn áp của thực dân Pháp và các thế lực chống đối cách mạng, chính quyền đã có những hòm phiếu lưu động cho dân; nhiều người chưa hiểu đã được Việt Minh giải thích để thực hiện quyền công dân. Có những vùng đồng bào dân tộc, đồng bào miền núi, người dân không biết chữ, chính quyền đã hình thành các hòm phiếu ghi tên các ứng cử viên, ai đồng ý thì dùng hạt ngô bỏ vào; nhiều hình thức, sáng kiến giúp cử tri thực hiện quyền bầu cử. Ở miền Nam, nhất là Nam bộ, Pháp ra sức phá hoại cuộc bầu cử, có nơi hòm phiếu bị đập phá, cử tri và cả cán bộ bị bắn chết, nhưng cuộc bầu cử vẫn giành thắng lợi.Cuộc bầu cử Quốc hội Khóa I đã diễn ra tại 71 tỉnh, thành phố trong cả nước. Có 89% tổng số cử tri đi bỏ phiếu, phổ biến là 80%, nhiều nơi đạt 95%. Trừ một số nơi bầu bổ sung, còn lại tuyệt đại đa số các địa phương chỉ bầu một lần. Cuộc Tổng tuyển cử đầu tiên đã vượt qua muôn vàn khó khăn để giành thắng lợi. Lần đầu tiên trong lịch sử dân tộc ta, nhân dân đã thực hiện quyền làm chủ đất nước và xã hội thông qua lá phiếu để bầu những đại biểu thay mặt mình gánh vác công việc nước nhà.

Kết quả bầu cử Quốc hội Khóa I: Tổng số đại biểu thông qua bầu cử 333 đại biểu = 83% trong Quốc hội. Trong đó các đại biểu theo đảng phái 57% gồm Việt Minh 120 -36%, Đảng Dân chủ 46-14%, Đảng Xã hội 24-7%; không đảng phái 143-43%; 83% đại biểu là công nhân, nông dân, chiến sỹ cách mạng; 10 đại biểu nữ và 34 đại biểu là dân tộc thiểu số. Chủ tịch Hồ Chí Minh đạt 98,4% số phiếu. kết quả này là bằng chứng khát vọng độc lập tự chủ của dân tộc ta và uy tín tuyệt đối của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong toàn thể nhân dân Việt Nam.

 Số đại biểu không thông qua bầu cử mà là đại biểu “truy nhận” là 70, chiếm 17% trong Quốc hội (gồm Việt Quốc 50, Việt Cách 20), theo thỏa thuận ngày 24/12/1945 trước bầu cử giữa Việt Nam độc lập đồng minh Hội (Việt Minh) với Việt Nam Quốc dân đảng (Việt Quốc) và Việt Nam cách mạng đồng minh Hội (Việt Cách). Số này, sau này chỉ được Quốc hội công nhận 7 đại biểu, còn lại 63 người bị Quốc hội truất quyền đại biểu).

Thành phần Quốc hội đại diện cho cả 3 miền Bắc, Trung, Nam, các giới từ những nhà cách mạng lão thành, thương gia, nhân sỹ trí thức và các nhà hoạt động văn hóa, đến đại biểu các thành phần tôn giáo, những người không phải đảng phái và các đảng phái chính trị. Chủ tịch Hồ Chí Minh tại kỳ họp thứ nhất đã đánh giá: “Kết quả là sự hy sinh, đấu tranh của tổ tiên ta, nó là kết quả của sự đoàn kết anh dũng phấn đấu của toàn thể đồng bào Việt Nam ta, sự đoàn kết của toàn thể đồng bào không kể già, trẻ, lớn, bé, gồm tất cả các tôn giáo, tất cả các dân tộc trên bờ cõi Việt Nam đoàn kết chặt chẽ thành một khối hy sinh không sợ nguy hiểm tranh lấy nền độc lập cho Tổ quốc.”

Quốc hội Khóa I ra đời trong hoàn cảnh cuộc đấu tranh quyết liệt giành và bảo vệ nền độc lập dân tộc, tự do cho Tổ quốc. Sự ra đời của Quốc hội vừa là thành quả vừa là yêu cầu bức thiết của sự nghiệp đấu tranh cách mạng. Quốc hội Khóa I là Quốc hội của độc lập dân tộc, của thống nhất đất nước và đại đoàn kết toàn dân. Trong điều kiện cả nước vừa phải hoàn thành cách mạng giải phóng dân tộc vừa phải từng bước thực hiện cải cách dân chủ, Quốc hội Khóa I đã góp phần quan trọng vào cuộc kháng chiến trường kỳ chống thực dân Pháp, với chiến thắng Điện Biên Phủ lẫy lừng, đưa miền Bắc bước vào thời kỳ xây dựng CNXH, tiếp tục đấu tranh giải phóng miền Nam, tiến tới thống nhất đất nước.

Thắng lợi của cuộc Tổng tuyển cử cũng đã khẳng định sự lãnh đạo sáng suốt và tài tình của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh; đánh dấu sự ra đời của Quốc hội, cơ quan đại biểu cao nhất của nhân dân, cơ quan quyền lực cao nhất của đất nước; Thành lập một chính phủ thống nhất, ban hành một bản Hiến pháp dân chủ, tiến bộ. Thắng lợi Tổng tuyển cử, đánh dấu bước trưởng thành của Nhà nước cách mạng Việt Nam, mở ra kỷ nguyên mới cho đất nước ta có một Quốc hội, một Chính phủ thống nhất, một bản Hiến pháp tiến bộ và một hệ thống chính quyền hoàn toàn đầy đủ danh nghĩa về mặt pháp lý để đại diện cho nhân dân Việt Nam về đối nội và đối ngoại. Đó còn là khẳng định đường lối, chủ trương của Đảng đúng đắn, sáng tạo, thể hiện khát vọng độc lập, tự do của nhân dân Việt Nam; khẳng định niềm tin tuyệt đối của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh vào tinh thần yêu nước của nhân dân ta. Đồng thời cũng là sự biểu thị khát khao dân chủ của nhân dân và sức mạnh của khối đại đoàn kết dân tộc.

Nhiệm kỳ Quốc hội Khóa I kéo dài 14 năm (1/1946-5/1960), qua 12 kỳ họp, thông qua 2 bản Hiến pháp: Hiến pháp 1946 và Hiến pháp năm 1959, 16 đạo luật, 50 Nghị quyết. Có 3 Chính phủ liên hiệp do Chủ tịch Hồ Chí Minh lãnh đạo: Chính phủ liên hiệp kháng chiến (2/3-2/11/1946), Chính phủ liên hiệp quốc dân (3/11/1946-21/5/1955), Chính phủ mở rộng (22/9/1955-27/5/1959).

Cuộc Tổng tuyển cử đầu tiên đã thắng lợi vang dội trên phạm vi cả nước, đánh dấu bước nhảy vọt về thể chế dân chủ của nước ta. Người dân Việt Nam từ thân phận nô lệ, lầm than đã tự vươn mình trở thành chủ nhân của một nước tự do độc lập, khẳng định với thế giới rằng: Nhân dân Việt Nam quyết tâm bảo vệ nền độc lập, chủ quyền và thực sự có đủ khả năng tự quyết định vận mệnh lịch sử của mình, tự lựa chọn xây dựng chế độ mới. Cuộc tổng tuyển cử ngày 6/1/1946 đã đi vào lịch sử nước nhà như một mốc son chói lọi. Thắng lợi của cuộc Tổng tuyển cử khẳng định sự lãnh đạo tài tình, sáng suốt của Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh trước tình thế “ngàn cân treo sợi tóc”./.

Nhân kỷ niệm 75 năm ngày Tổng tuyển cử đầu tiên bầu Quốc hội Việt Nam (6/1/1946-6/1/2021)

 Ngô Văn Tuyến