“Đồng đội” của Đỗ Bính: Từ trai làng ra chiến trường, trọn vẹn nghĩa tình người lính

Đăng lúc: 06-09-2026 9:58 Sáng - Đã xem: 21 lượt xem In bài viết

Ai đã từng đi qua chiến tranh đều khắc sâu tình đồng đội thiêng liêng. Bài thơ “Đồng đội” của nhà thơ, cựu chiến binh Đỗ Bính là một bản trường ca thu nhỏ đầy bình dị nhưng sâu lắng về nghĩa tình người lính từ quê nhà ra mặt trận đến ngày trở về.

Ký ức về tình đồng đội trong thơ ca chiến trường

Ai đã từng qua cuộc chiến, với những năm tháng ác liệt, cam go trên chiến trường sẽ luôn khắc sâu và trân quý tình đồng đội.

Có nhiều nhà thơ viết về nội dung này như Chính Hữu trong bài “Đồng chí”:

“Anh với tôi đôi người xa lạ

Tự phương trời chẳng hẹn quen nhau

Súng bên súng, đầu sát bên đầu

Đêm rét chung chăn thành tri kỷ.”

Hay như Trần Duy Đới trong bài “Đồng đội gọi”:

“Nhớ khi cái chết lửng lơ

Lấy thân đỡ đạn che cho bạn mình

Từ trong khói lửa chiến chinh

Đậm tình đồng chí, thắm tình anh em;”

Hay như Phan Thái trong bài “Đồng đội trên điểm cao”:

“Tiểu đội 12 người

12 miền quê về họp mặt

Phiên trực chiến nói với nhau bằng mắt

Cây súng bên mình ánh thép chạm vào trăng.”

Duyên ngộ cùng bài thơ “Đồng đội” tại Hà Nội

Tôi có chút quen biết với nhà thơ, CCB Đỗ Quang Bính, bút danh Đỗ Bính. Trong một dịp gặp nhau tại Hà Nội, anh có tặng tôi bài thơ “Đồng đội” in trên giấy A4.

Anh nói là anh rất tâm đắc với bài thơ này, và nói: “Xin tặng anh và xin được coi anh như “đồng đội”.

Tôi đọc qua, thấy bài thơ tuy giản dị nhưng sâu lắng. Nó như một bản trường ca thu ngắn về tình đồng đội, tình bạn từ thuở “chân đất”, “khố dây” ở nơi quê nhà làm nông chân chất đến những tháng năm nơi chiến trường ác liệt, gian nan và cuối cùng là niềm tự hào, thanh thản khi trở về cuộc sống đời thường.

Toàn bộ bài thơ như sau:

ĐỒNG ĐỘI

Chúng tôi cùng đại đội

Cùng nhập ngũ một ngày

Cùng nhà nông chân chất

Vào lính thế mà hay

Thằng Tuyết là thợ cày

Thằng Xuân làm lò gạch

Thằng Đức trông ao cá

Còn tôi giữ vườn cây

Cấp Hai qua lớp bảy

Tuổi mới lớn tầm này

Ăn thì cứ như phá

Chuyện rôm tràn cung mây

Tôi nhớ ngày hôm ấy

Giấy Xã báo mẹ thầy

Tôi xung vào quân ngũ

Cùng 3 thằng “khố dây”

Chúng tôi ra tiền tuyến

B1 rồi B5

Áo lính già vai bạc

Thằng nào cũng đạn găm

Vết thương qua tháng năm

Đều mang về quê mẹ

Kỉ niệm ở chiến trường

Giờ là phó thường dân

Mỗi năm ngày thống nhất

Lại gặp nhau một lần

Tửu vui cùng ôn lại

LÍNH! Cái thời thanh Xuân!

ĐB

Chất quê mộc mạc và tuổi trẻ hồn nhiên của người lính

Bài thơ viết theo thể tự do với 7 khổ, mỗi khổ 4 câu, mỗi câu 5 chữ tuy bình dị mộc mạc nhưng có ý nghĩa sâu xa.

Hai khổ thơ mở đầu nói lên sự trùng hợp đầy duyên nợ của 4 người đồng ngũ, đồng hương:

“…cùng đại đội

Cùng nhập ngũ một ngày

Cùng nhà nông chân chất…”

Cái hay của khổ thơ đầu là ở chỗ rất mộc mạc, tác giả không dùng những từ ngữ mĩ miều để miêu tả sự xuất thân của người lính mà giới thiệu họ qua những cái nghề đậm chất nông dân: “Thằng Tuyết là thợ cày/ Thằng Xuân làm lò gạch/ Thằng Đức trông ao cá”, còn tác giả thì trông giữ vườn cây.

Họ là những chàng trai làng lớn lên trong thời chiến, khi mà Tổ quốc gọi, lớp lớp thanh niên lên đường chống Mỹ cứu nước. Họ là những chàng trai vừa chớm tuổi thanh niên, vừa học qua lớp Bảy phổ thông: “Cấp Hai qua lớp bảy”, cái tuổi “Ăn thì cứ như phá/ Chuyện rôm tràn cung mây”.

Chỉ với hai câu thơ đơn giản nhưng tác giả đã gửi đi một thông điệp là lứa trai làng thời đó tuy gian khổ, lam lũ nhưng rất vô tư, rất lạc quan yêu đời.

Đọc đến hai câu thơ: “Tôi xung vào quân ngũ/ Cùng 3 thằng “khố dây”. Ta thấy nó vừa sâu sắc, vừa nhẹ nhàng lại vừa rất hóm hỉnh.

Dân gian thường dùng cụm từ “bạn nối khố” để chỉ bạn bè thân thiết với nhau từ thời thơ ấu, cùng lớn lên, cùng chia sẻ nhiều kỷ niệm qua nhiều năm tháng. Hồi đó, trẻ em ở nông thôn miền Bắc thường cởi trần, mặc khố có dây cột lại nên gọi là “khố dây”!

Tác giả sử dụng từ này mang sắc thái rất thân mật, tự nhiên và để mô tả tình bạn tri kỷ sâu sắc và bền chặt.

Sự khốc liệt nơi chiến trường B1, B5 và ngày trở về thanh thản

Và rồi thời gian cứ vùn vụt trôi qua, từ trai làng mới lớn thành những chàng bộ đội theo đoàn quân ra trận, từ chiến trường gần đến chiến trường xa:

Chúng tôi ra tiền tuyến

B1 rồi B 5

Áo lính già vai bạc

Thằng nào cũng đạn găm.

Xin được chú thích thêm, trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, B1 là ký hiệu thuộc chiến trường Quân khu 5, và B5 là ký hiệu thuộc chiến trường Đường 9 – Bắc Quảng Trị.

Hai câu thơ “Áo lính già vai bạc/ Thằng nào cũng đạn găm”, tuy mộc mạc nhưng đã lột tả được sự tàn khốc của chiến tranh, khi những người lính tuy tuổi chưa già nhưng qua những trận chiến khốc liệt đã như già đi rất nhanh cùng tấm áo bạc màu, đạn găm.

Họ cùng đi qua các chiến trường, cùng chiến đấu và cùng gánh chịu những tổn thương trên thân thể. Sự kiên cường của người lính không được viết bằng những từ ngữ cao siêu tô vẽ, mà tác giả đã tinh tế phác họa qua các từ rất bình dị như “lính già”, “áo bạc”, “đạn găm”!

Và rồi cũng như bao người lính khác, sau chiến tranh họ lại trở về với đời thường một cách thầm lặng, giản đơn.

Thật may mắn thay, họ – bốn chàng trai làng, bốn người lính cùng đại đội tuy “thằng nào cũng đạn găm”, nhưng lại được cùng trở về quê mẹ, làm “phó thường dân”. Cụm từ “phó thường dân” nghe vừa hóm hỉnh nhẹ nhàng vừa rất thanh thản, khi họ đã hoàn thành nghĩa vụ thiêng liêng với Tổ quốc rồi lại về làng làm người dân thường không màng danh lợi.

Trọn vẹn nghĩa tình và niềm tự hào thời thanh xuân

Rồi cứ mỗi dịp 30 tháng Tư, kỷ niệm ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng, họ lại hội ngộ nâng chén rượu vui, ôn lại những ký ức chiến trường xưa:

Tửu vui cùng ôn lại

LÍNH! Cái thời thanh xuân!

Dấu chấm cảm thán đặt sau từ LÍNH và cụm từ “Cái thời thanh xuân”, như rung lên trong tim người đọc cùng chia sẻ niềm tự hào cùng những người lính đã sống thời trai trẻ không hối tiếc, cống hiến hết mình cho Đất nước, quê hương.

Nhìn chung, bài thơ “Đồng đội” của nhà thơ Đỗ Bính, được tác giả viết bằng thể thơ tự do năm chữ bắt vần chân linh hoạt, lời thơ giản dị như lời kể chuyện có lớp lang, không lạm dụng các từ ngữ bóng bẩy, mĩ miều.

Chính cái chân chất mộc mạc trong từng câu chữ lại làm nên sức lay động lòng người, khi tác giả đã khắc họa trọn vẹn chân dung thế hệ những anh bộ đội Cụ Hồ thời kháng chiến chống Mỹ; kiên cường trong chiến đấu, bình dị trong đời thường và nghĩa tình khi trở về quê mẹ.

Ngày 05/9/2026.

H.V.C